Cụ Nghè Ôn với căn cứ Đồng Thông

663
Cụ Nghè Ôn với căn cứ Đồng Thông
Rate this post

Nguyễn Xuân Ôn sinh ngày 23-3 năm Ất Dậu (10-5-1825). Năm 1871 (Tân Mùi), ông đậu Tiến sĩ khoa Tân Mùi, đồng khoa với Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến và Phó bảng Lê Doãn Nhã, người bạn đồng hương sau này cộng tác đắc lực với ông trong cuộc khởi nghĩa thời Văn thân chống Pháp.

==>> Xem thêm Hai huyện Bến Cát, Tân Uyên: Sẽ trở thành thị xã

Nhân dân Nghệ Tĩnh thường quen gọi ông là cụ Nghè Ôn.

Nguyễn Xuân Ôn được bổ nhiệm làm Tri phủ Quảng Ninh (Quảng Bình), Đốc học tỉnh Bình Định, Án sát tỉnh Bình Thuận.

Bấy giờ sống trong tình cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp thôn tính dần (sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông rồi đến 3 tỉnh miền Tây, thực dân Pháp đã tấn công Bắc kỳ lần thứ nhất và lần thứ hai vào năm 1873-1874 và 1882-1883) ông đã luôn sống trong tâm trạng bất bình trước sự nhu nhược của một bộ phận vua quan yếu hèn và ông cũng rất đau xót khi dân chúng trong tình cảnh nước mất nhà tan.

Vì vậy, ông đã nhiều lần viết sớ dâng lên triều đình nhằm mục đích vạch trần âm mưu xảo quyệt của giặc Pháp đó là dã tâm cướp nước ta và biến nước ta thành thuộc địa và nô dịch cho Pháp.

Qua đó, ông đã đề nghị lên triều đình những biện pháp tích cực nhằm đối phó với âm mưu của Pháp, nhưng lời tâu của ông đã không được vua Tự Đức đồng tình mà ngược lại ông còn bị vua khiển trách và sau nhiều lần bị ông can gián, vua Tự Đức đã cách chức ông (1883). Từ đó, ông lui về quê tích cực chuẩn bị cơ sở chống Pháp, cứu nước.

Mùa đông năm 1885, ông cho mời tất cả các thủ lĩnh quân, bạn bè tâm phúc ở các nơi về Vườn Mới ở làng Quần Phương làm lễ tế cờ.

Trong niềm vui lớn, ông tuyên bố với các nghĩa sĩ và nhân dân: “Đối với dân, quân phải thương yêu kính trọng và biết tôn trọng tính mạng, tài sản của dân. Đối với quân, dân phải đùm bọc, không đưa đường chỉ lối cho giặc làm hại. Giờ quyết liệt đã đến, chúng ta hãy dũng cảm đứng cả lên”.

Lời tuyên bố ấy thể hiện khí thế chống Pháp của nghĩa quân cùng với nhân dân làng Quần Phương và đó cũng là lời nhắc nhở, động viên nghĩa sĩ, nhân dân hăng hái tham gia chống Pháp.

Sau đó, ông cho chuyển quân lên xây dựng căn cứ địa ở vùng núi phía Tây Bắc, huyện Yên Thành mục đích “quyết ra tay vần đất xoay trời”.

Bấy giờ, Nguyễn Xuân Ôn chọn thung lũng thuộc xã Đồng Thành làm nơi xây dựng Đại đồn Đồng Thông. Đại đồn rộng khoảng 30 ha. Chung quanh có núi non bao bọc, có thể đi ngược lên phía tây vào sâu đến núi Trọc cao gần 500m, hoặc có thể vượt qua dốc Lội đi về phía tây bắc vào vùng Động Đình, Nhà Đũa, nơi mà chủ soái Lê Lợi và tướng Đinh Lễ, đã cho ém quân vào cuối năm 1424 để 8 tháng sau kéo về xuôi đánh thắng Thành Trài của giặc Minh vào tháng 6-1425, hoàn thành giải phóng Nghệ An.

Lúc đó, theo ông thì với địa thế của Đồng Thông là rất thuận lợi để chống Pháp. Bốn mặt Đồng Thông có 4 ụ đất cao để đặt súng thần công. Cửa ra ở phía bắc theo đường eo Đá Chồng đi về Đức Hậu, Quỳ Lăng.

Cửa ra ở phía nam theo núi Hòn Dài về cửa Đập, xuôi Vũ Kỳ, Thuần Vy, Phương Tô. Ông còn cho lập kho lương thực, xưởng rèn vũ khí và nhiều doanh trại để đánh Pháp lâu dài.

Buổi đầu nghĩa quân lên đến khoảng 2.000 người, hầu hết là nông dân trai tráng. Có nhiều người lão luyện quân cơ như đề Kiều, đề Mậu, lãnh Bá, lãnh Từ, lãnh Thúc, tác Bảy, quản Giáp, đội Viêng.

Đây là những đồng sự đắc lực của ông. Nghĩa quân ngày đêm vừa luyện tập võ nghệ vừa lao động sản xuất tự lực lương thực bên cạnh sự đóng góp tích cực của nhân dân địa phương.

Từ đó, căn cứ Đại đồn Đồng Thông trở thành vị trí quan trọng, hiểm trở, tiến thoái dễ dàng góp phần trong công cuộc chống Pháp bấy giờ ở địa phương Đông Thành.

Là một nhà nho yêu nước, một ông quan nghè, Nguyễn Xuân Ôn đã tích cực chống Pháp với hoàn cảnh điều kiện của mình. Biết bao thế hệ đời sau đã ghi nhớ công lao của ông và căn cứ Đồng Thông như một chiến tích trong lịch sử chống giặc Pháp của tổ tiên ta.

Trước đèn đọc sách, suy nghĩ đôi điều, chia sẻ cùng ai.