Lịch sử Đoàn THCS Hồ Chí Minh tỉnh Bình Dương giai đoạn 1930 – 1975

853
Đoàn THCS Hồ Chí Minh tỉnh Bình Dương
Rate this post

Bình Dương là một tỉnh thuộc Miền Đông Nam bộ, có diện tích tự nhiên 2.695,54 km2, bắc giáp Bình Phước, đông giáp Đồng Nai, tây giáp Tp. Hồ Chí Minh và Tây Ninh, nam giáp Tp. Hồ Chí Minh.

==>> Xem thêm Bác Hồ nói về chủ nghĩa cá nhân

Tỉnh Bình Dương hiện nay có 1 thị xã và 6 huyện gồm 89 xã, phường và thị trấn, với  1.030.722 người dân.

Trung tâm tỉnh đặt tại thị xã Thủ Dầu Một, cách TP. Hồ Chí Minh 30 km về phía nam. Vị trí này làm cho Bình Dương trở thành một địa bàn có ý nghĩa chiến lược về quân sự và kinh tế cả trong thời bình lẫn thời chiến: là vị trí án ngữ sát nách phía bắc và đông bắc Sài Gòn,  trung tâm kinh tế – chính trị của Nam bộ; là g?ch nối giữa Miền Đông trù phú, giàu tiềm năng công nghiệp với đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa của Nam bộ; từ nơi này, nhờ hệ thống  giao thông thủy bộ thuận tiện, có thể lưu thông, liên lạc với Tây Nguyên – nam Trường Sơn và với nước bạn Cam-pu-chia.

Đoàn THCS bình dương

Bình Dương còn là nơi có tiềm năng kinh tế dồi dào và phong phú. Sự đa dạng thổ nhưỡng kết hợp với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng nóng nhưng mưa nhiều, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi  cho sự phát triển của các loại động, thực vật nhiệt đới. Vì vậy, Bình Dương có nhiều vườn cây trái xum xuê và những cánh rừng bạt ngàn. Từ khi chiếm được Miền Đông Nam kỳ, thực dân Pháp cho thành lập ở đây các đồn điền cao su rộng lớn. Rừng Bình Dương cung cấp nhiều  loại gỗ và động vật quý hiếm. Bình Dương còn có nhiều  đất khoáng, nhất là các loại đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu… Nhờ vậy, nhân dân ở đây có những nghề truyền thống lâu đời và nổi tiếng như nghề gốm, nghề mộc, nghề điêu khắc, sơn mài… Với hệ thống  giao thông thủy bộ thuận lợi nhờ vào các con sông lớn như sông Sài Gòn, sông Bé, sông Đồng Nai, sông Thị Tính và hệ thống  kênh rạch chằng chịt cùng các tuyến đường huyết mạch như quốc lộ 13, quốc lộ 14, liên tỉnh lộ 1A, liên tỉnh lộ 13… hoạt động kinh tế, thương mại  của Bình Dương diễn ra rất nhộn nhịp, nhất là hoạt động  mua bán gỗ và các mặt hàng mỹ nghệ  tại các chợ Phú Cường, Tân Ba, Thị Tính…

Như vậy, Bình Dương không chỉ có tầm quan trọng về chính trị, quân sự, mà còn là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế. Chính vì vậy, các thế lực ngoại xâm, từ Pháp đến Mỹ, đều coi đây là một trong những địa bàn then chốt phải chiếm đóng. Bộ máy chính quyền địch ở Bình Dương được quân sự hóa cao độ. Địch thường xuyên tập trung ở đây một lực lượng quân sự lớn nhằm giữ vững vị trí chiến lược này. Về phía ta, Bình Dương là cửa ngõ tiến công vào sào huyệt của địch từ phía bắc; là nơi có địa hình thuận lợi để tập trung các binh đoàn chủ lực và xây dựng các căn cứ địa lớn của tỉnh, của Miền. Từ những cánh rừng rộng lớn của Bình Dương, các căn cứ địa nổi tiếng của tỉnh và của Miền như  chiến khu Long Nguyên, chiến khu Thuận An Hòa, chiến khu Đ…  đã hình thành và phát triển, vừa che chở, bảo tồn lực lượng cách mạng, vừa là bàn đạp tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Trên các vùng nông thôn rộng lớn,  chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, đồng thời, là địa hình thuận lợi cho tác chiến tập trung quy mô lớn của các binh đoàn chủ lực. Với vị trí chiến lược đó, Bình Dương là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch, là một trong những chiến trường ác liệt nhất trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Kháng chiến gian khổ, ác liệt là lửa thử vàng. Qua hai cuộc kháng chiến, truyền thống yêu nước, đoàn kết, bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân Bình Dương được tỏ rõ và phát huy cao độ, thể hiện  truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trên vùng đất này. Truyền thống đó gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của vùng đất,  con người Bình Dương…

Từ thuở xa xưa, trên vùng đất hoang sơ này đã có các tộc người Stiêng, Châu Ro, Châu Mạ, Mơ nông sinh sống. Đầu  thế kỷ XVII, lưu dân người Việt từ vùng Thuận Quảng, do không chịu nổi ách áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến và hậu quả của những cuộc chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn, đã lần lượt vào Nam, một bộ phận trở thành những cư dân mới trên vùng đất trù phú và thưa người này. Bên cạnh di dân người Việt, còn có một bộ phận người Hoa không phục triều đình Mãn Thanh, được chúa Nguyễn chấp thuận cũng vào định cư nhiều  nơi ở Nam bộ, một bộ phận dừng chân ở Bình Dương. Về sau, do các chính sách thông thoáng từ phía Trung Hoa, cho phép người Hoa giao thương với các nước, đông đảo người Hoa tiếp tục sang làm ăn, buôn bán và định cư ở Việt Nam, trong đó có Bình Dương. Tiến trình di dân của người Việt xuống phương Nam tiếp tục diễn ra trong suốt thế kỷ XVII, tạo thành những vùng dân cư rộng lớn ở Nam bộ và được chính thức xây dựng thành những đơn vị hành chánh đầu tiên khi  Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất phương nam, thành lập phủ Gia Định gồm 2 huyện Phước Long và huyện Tân Bình. Toàn bộ vùng đất Miền Đông Nam bộ ngày nay thuộc huyện Phước Long với thủ phủ là dinh Trấn Biên. Từ đó, trên vùng đất Bình Dương ngày nay đã sớm xuất hiện những tên đất, tên làng, phố chợ với hoạt động sản xuất và mua bán nhộn nhịp như Lái Thiêu, chợ Búng, chợ Phú Cường, chợ Tân Ba, chợ Tân Uyên, chợ Thị Tính, chợ Dầu Tiếng… Về sau, dưới thời Pháp thuộc, đông đảo nông dân từ miền Bắc, miền Trung bị khốn quẫn dưới ách thực dân – phong kiến, tiếp tục vào Bình Dương làm cu ly cho các đồn điền cao su của tư bản Pháp theo những hợp đồng dài hạn; một số người Việt từ các tỉnh Miền Tây Nam bộ cũng đến Bình Dương làm ăn, khai hoang, mở đất… Từ đó, Bình Dương trở thành nơi tụ hội cư dân từ bốn phương trong cả nước, nơi tập trung nhiều  dân tộc anh em cùng cộng cư sinh sống lâu đời. Chính sự quần tụ này làm cho Bình Dương trở thành một trong những vùng đất nổi tiếng có truyền thống văn hóa phong phú, đa dạng với các giá trị bền vững của văn hóa  Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập tự chủ, tinh thần tự lực tự cường…, đồng thời, tạo nên sắc thái riêng của người Bình Dương: vừa khoáng đạt vừa quật khởi, năng động và nhạy cảm, thủy chung, giàu tình nghĩa…

lịch sử Đoàn THCS bình dương

Cư dân Bình Dương đa phần đều xuất thân từ tầng lớp lao động nghèo khổ, dễ cảm thông, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Từ đó, tình đoàn kết, gắn bó giữa các tộc người sớm hình thành trong quá trình cộng cư sinh sống và được tiếp tục phát huy cao độ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù dân tộc.

Từ khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược Miền Đông, nhân dân Bình Dương  không lúc nào ngừng chống giặc.  Những cuộc đấu tranh chống Pháp dưới sự chỉ huy của các quan lại địa phương đứng về phe chủ chiến như Đổng lý Văn Đức Đại, Phó đề đốc quân thứ Lê Quang Tiến ở Bình An, Bố chính Thân Văn Nhiếp ở Tân Uyên đã thu hút nhiều  thanh niên trai tráng khắp Bình Dương tụ nghĩa. Bộ phận ở ngoài thì ủng hộ lương thực, thực phẩm để nuôi quân, thực hiện vườn không nhà trống chống giặc… Lực lượng nghĩa quân đã gây cho địch nhiều  khó khăn trong suốt năm 1861. Năm 1870, nhân dân Bình Dương tiếp tục hưởng ứng, ủng hộ lực lượng kháng chiến của nghĩa quân Trương Quyền và sư Pô Cum Pô tiến công các đồn địch vùng ven sông Thị Tính…  Từ năm 1908, phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Bình Dương lại dấy lên sôi nổi, bắt đầu từ những cuộc đấu tranh lẻ tẻ của các dân tộc thiểu số dưới sự chỉ huy của các tù trưởng bộ lạc như ông Điểu Dố (người Stiêng). Từ năm 1912, phong trào đấu tranh chống Pháp phát triển mạnh mẽ trên một địa bàn rộng lớn từ Tây Nguyên đến Miền Đông Nam bộ dưới sự lãnh đạo chung của Nơ Trang Long. Ở Bình Dương, đồng bào dân tộc vùng Lộc Ninh, Hớn Quảng sôi nổi hưởng ứng các cuộc khởi nghĩa do các ông R’Đing, R’Ong tổ chức  đấu tranh chống lại sự đàn áp, cướp đất của kẻ thù. Trong khi đó, ở phía nam của tỉnh, những cuộc đấu tranh của thợ thủ công, của nhân dân dưới hình thức các Hội kín diễn ra sôi nổi khiến cho quân Pháp không lúc nào yên[1]…

Từ những năm cuối thập niên 20, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin do lãnh tụ Nguyễn Aùi Quốc truyền bá về nước soi rọi, phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân Bình Dương như đang nắng hạn gặp mưa rào, ngày càng phát triển, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Cuộc chuyển mình quan trọng đó ghi đậm dấu ấn của lực lượng trẻ Bình Dương. Với truyền thống dân tộc, với tiềm năng vật chất và tinh thần của địa phương, thanh thiếu niên Bình Dương không ngừng phát huy sức mạnh của tuổi trẻ vào cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong suốt thế kỷ XX…

Chương I

THANH NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC  TỪ KHI CÓ ĐẢNG ĐẾNCÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 (1930 – 1945)

 

PHONG TRÀO THANH NIÊN, HỌC SINH TỈNH THỦ DẦU MỘT TỪ KHI CÓ ĐẢNG ĐẾN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Thanh niên Thủ Dầu Một giác ngộ lý tưởng cộng sản, sát cánh cùng công nhân, nông dân đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng (1930 – 1935)
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), do tác động của hoàn cảnh lịch sử mới[1], phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam phát triển mạnh mẽ với nhiều hoạt động sôi nổi, phong phú. Thanh niên Việt Nam được tập hợp trong các cuộc đấu tranh cách mạng rộng lớn[1] và trong các tổ chức chính trị yêu nước như Đảng Thanh niên, Thanh niên cao vọng Đảng… Thông qua các tổ chức chính trị đó, thanh niên Việt Nam có điều kiện tiếp xúc với nhiều sách báo tiến bộ như: báo “ Chuông rè” (La cloche félée), báo “An Nam” (L’An Nam) … Đặc biệt, tháng 6/1925, đồng chí Nguyễn Aùi Quốc cùng một số thanh niên Việt Nam yêu nước đang hoạt động tại Quảng Châu (Trung Quốc) sáng lập Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Sự ra đời của Hội VNTNCM có ý nghĩa vô cùng to lớn, không chỉ tác động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước của nhân dân ta, mà còn là viên đá đầu tiên cho sự hình thành và phát triển của các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu hướng cộng sản ở Việt Nam sau này.

Hội VNTNCM mở nhiều lớp huấn luyện cho hội viên tại Quảng Châu do đồng chí  Nguyễn Aùi Quốc trực tiếp giảng dạy, sau đó chọn một số học viên gởi vào học trường quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu), hoặc các lớp đào tạo cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Hội ra báo “Thanh niên” làm công cụ tuyên truyền cho thanh niên Việt Nam ở hải ngoại và trong nước. Sau khi được huấn luyện, hội viên bí mật trở về nước  tuyên truyền, vận động thanh niên và phát triển cơ sở của hội. Năm 1927, Kỳ bộ Nam kỳ của Hội VNTNCM nhận được nhiều sách báo cách mạng như báo “Việt Nam hồn”, “Nhân đạo”, “Thanh niên”, các sách “Đường cách mệnh”, “ABC về chủ nghĩa cộng sản” và nhiều tài liệu Mác-xít bằng tiếng Pháp để lưu hành trong hội viên. Năm 1928, Kỳ bộ Nam kỳ mở lớp huấn luyện cho hội viên mới; năm 1929 ra tạp chí Bôn-sê-vích và báo “Công – Nông – Binh” nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin cho hội viên và thanh niên. Trong những năm 1928 -1929, VNTNCM tổ chức phong trào “vô sản hóa”, đưa hội viên về các nhà máy, đồn điền… sinh hoạt hợp pháp và bí mật tổ chức cơ sở trong thanh niên công nhân, nông dân… Tại Thủ Dầu Một, đầu năm 1929, kỳ bộ Nam kỳ cử đồng chí  Nguyễn Văn Lợi đi “vô sản hóa” ở Dĩ An. Qua đó, công nhân nhà máy xe lửa Dĩ An được tuyên truyền, khơi dậy tinh thần yêu nước, chống áp bức, bóc lột, được vận động tham gia tổ chức “công hội đỏ”…

Giữa năm 1929, phong trào cách mạng trong nước phát triển mạnh mẽ làm bộc lộ yêu cầu bức xúc cần phải có một chính Đảng của giai cấp công nhân mới có thể đủ sức lãnh đạo phong trào. Trước thực tế đó, Hội VNTNCM phân hóa thành 3 tổ chức cộng sản ở 3 miền đất nước : Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc kỳ (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng ở Nam kỳ (7-8/1929) và Đông Dương Cộng sản liên đoàn ở Trung kỳ (1/1930). Các tổ chức Cộng sản này tiếp tục tuyên truyền, vận động, gây dựng cơ sở Đảng trên khắp 3 miền. Ở Thủ Dầu Một, tháng 12/1929, tổ chức ANCSĐ cử đồng chí Nguyễn Đức Thiệu đến Dĩ An để xây dựng chi bộ và phát triển tổ chức Công hội đỏ. Cuối năm 1929 – đầu năm 1930, hai nhóm đảng viên thuộc Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và An Nam Cộng sản Đảng cũng đến Bình Nhâm (Lái Thiêu – Thủ Dầu Một)  để tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối của Đảng cho một số thanh niên yêu nước tại đây.

Hoạt động tuyên truyền, giáo dục của các hạt nhân cộng sản trong “ Việt Nam Thanh niên cách mạng”ø, “An Nam Cộng sản Đảng”  và “ Đông Dương Cộng sản Liên đoàn” đã tác động mạnh mẽ đến tinh thần yêu nước của công nhân, nông dân, đặc biệt là đối với lớp thanh niên tiên tiến ở Thủ Dầu Một. Ý thức giai cấp và đấu tranh giai cấp, phương pháp vận động và đấu tranh cách mạng theo đường lối của chủ nghĩa Mác – Lênin hình thành và phát triển, soi rọi tinh thần yêu nước trong thanh niên, trung niên công nhân, nông dân, trí thức, dẫn đến sự hình thành các chi bộ cộng sản đầu tiên ở Thủ Dầu Một : chi bộ nhà máy xe lửa Dĩ An (1/1930)[1], chi bộ Bình Nhâm (8/1930).

Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ cộng sản, phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân Thủ Dầu Một phát triển với một luồng sinh khí mới qua hàng loạt những cuộc đấu tranh của công nhân Dĩ An, nông dân Bình Nhâm nhân ngày quốc tế lao động 1/5/1930; đợt đấu tranh của công nhân, nông dân nhiều địa phương kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga và ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh (11/1930)…

Trước làn sóng  đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân  ta, thực dân Pháp mở những cuộc đàn áp, bắt bớ, khủng bố đẫm máu trên phạm vi cả nước và không kém phần dữ dội đối với riêng Thủ Dầu Một, một tỉnh có nhiều đồn điền cao su, nhiều cơ sở công nghiệp và có phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân khá điển hình ở Nam bộ. Phong trào cách mạng trong nước từ cuối 1930 đến 1932 tạm đi vào giai đoạn thoái trào. Nhưng chính sách khủng bố của thực dân Pháp không làm nao núng tinh thần yêu nước và cách mạng của nhân dân Thủ Dầu Một. Phong trào đấu tranh của nhân dân tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, nhất là từ cuối năm 1932, với những cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn của công nhân cao su Dầu Tiếng (15 -16/12 /1932, tháng 2/1933); đấu tranh chống thuế và chống bắt đi làm xâu của nông dân Lái Thiêu (18/4/1932); cuộc bãi công lớn của công nhân ngành gốm Lái Thiêu  (từ 27/9/1935, kéo dài 1 tuần lễ) nổ ra đồng loạt với cuộc tổng bãi công của công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn và các cuộc đấu tranh của công nhân Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre[1]… Lúc bấy giờ, thanh niên  thường là lực lượng đông đảo, hăng hái, tích cực nhất trong đội quân chính trị của quần chúng. Đặc biệt, trong các cuộc đấu tranh này, thanh niên Thủ Dầu Một đã trở thành lực lượng xung kích, hỗ trợ tích cực cho quần chúng công nông. Trong cuộc đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ của 2000 công nhân cao su Dầu Tiếng (2/1933), quần chúng đã lập ra đội tự vệ vũ trang gồm mấy chục thanh niên được  trang bị gậy gộc, dao, búa… nhằm chuẩn bị đối phó với sự đàn áp của địch. Khi đoàn biểu tình bị một toán lính gồm 120 tên đàn áp, đội tự vệ đã dũng cảm đánh trả, giành giật lại những người bị bắt, hỗ trợ đắc lực cho cuộc đấu tranh. Ngày 27/9/1935, công nhân trong 30/60 lò gốm ở Lái Thiêu đã bãi công, cử đại diện đưa yêu sách đòi các chủ lò trả đúng lương khoán cũ ( không cắt giảm lương). Công nhân còn viết nhiều khẩu hiệu tố cáo tội ác của bọn chủ bóc lột, dán tại các nơi đông người qua lại, cử một số thanh niên dũng cảm, trang bị dao, kiếm, gậy gộc canh giữ khẩu hiệu và bảo vệ cuộc đấu tranh trong suốt 1 tuần. Cuối cùng, các chủ lò gốm cũng nhượng bộ trước yêu sách đúng đắn và tinh thần đấu tranh kiên trì, dũng cảm của công nhân.

Các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân, thanh niên Thủ Dầu Một từ cuối năm 1932 đến năm 1935 dưới sự  lãnh đạo Đảng đã vực dậy phong trào đấu tranh cách mạng của tỉnh, giữ vững uy tín của Đảng trong các tầng lớp nhân dân, từng bước phát triển đảng viên và cơ sở Đảng, góp phần cùng cả nước khôi phục lại phong trào cách mạng chung trên toàn quốc sau thời kỳ bị địch khủng bố đẫm máu và tạm lắng, để bước vào thời kỳ đấu tranh sôi động tiếp theo.

Thanh niên, học sinh Thủ Dầu Một trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 – 1939)
Từ giữa những năm 30 của thế kỷ XX, thế giới đứng trước nguy cơ chiến tranh phát xít. Trong tình hình đó, tháng 7/1935, Quốc tế Cộng sản triệu tập Đại hội lần thứ VII, nêu lên mục tiêu trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới lúc này là chống phát xít và chiến tranh phát xít, giành dân chủ, bảo vệ hòa bình. Đại hội yêu cầu các Đảng  Cộng sản tập hợp lực lượng cách mạng, lập Mặt trận nhân dân rộng rãi để thống nhất hành động chống chủ nghĩa phát xít.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, phong trào đấu tranh chống phát xít dâng lên mạnh mẽ trên toàn thế giới. Ở Pháp, Mặt trận nhân dân do Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt giành thắng  lợi trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 4/1936 và sự  thành lập Chính phủ do Mặt trận nhân dân cầm quyền, đã mở ra nhiều thuận lợi cho phong trào đấu tranh dân chủ của nhân dân lao động ở chính quốc và cả nhân dân lao động ở các thuộc địa.

Ngày 26/7/1936, Ban chấp hành TW Đảng mở Hội nghị lần thứ I tại Thượng Hải (Trung Quốc). Hội nghị chủ trương lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận dân chủ Đông Dương), tập hợp mọi lực lượng  dân chủ và tiến bộ, đấu tranh chống kẻ thù chủ yếu trước mắt là bọn phát xít và bọn phản động thuộc địa Pháp, đòi tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, chống phát xít xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới bằng các hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp, kết hợp chặt chẽ với hoạt động  bí mật để phát triển Đảng  và các tổ chức  quần chúng nhằm thực hiện các mục tiêu trên.

Lúc bấy giờ, như tình hình chung trên toàn quốc, tại Thủ Dầu Một, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) và chính sách vơ vét, bóc lột nặng nề của thực dân Pháp, đời sống của hầu hết các tầng lớp nhân dân đều lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn : công nhân lầm than vì bị mất việc, số còn lại bị giảm lương; nông dân điêu đứng vì giá lúa hạ, tô thuế lại tăng cao; đồng lương công chức cũng xuống thấp hơn trước… Thực trạng đó làm cho hầu hết các tầng lớp nhân dân đều mong muốn một sự đổi mới, lòng dân sôi sục tinh thần đấu tranh để giành lại những lợi ích sống còn, giành lấy quyền tự do dân chủ.

Trước tình hình ấy, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một khẩn trương thực hiện chủ trương của TW Đảng và Xứ ủy, bắt đầu chuyển các hình thức tổ chức từ không hợp pháp sang công khai hợp pháp và nửa hợp pháp, nhằm tập hợp và hướng dẫn quần chúng đấu tranh, thông qua đó mà xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng, phát triển cơ sở Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, nhân dân Thủ Dầu Một tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ với mấy chục cuộc đấu tranh đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ trong  năm 1936. Tiếp đó là những hoạt động  sôi nổi tham gia cùng nhân dân cả nước trong cuộc vận động tổ chức  “Động Dương Đại hội”, đua dân nguyện và phong trào “đón Gô-đa” nhằm đòi Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp thi hành những cải cách dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân. Qua các phong trào này, thanh niên và các tầng lớp nhân dân Thủ Dầu Một được tập hợp trong một cuộc đấu tranh rộng lớn, cùng cả nước công khai tố cáo tội ác của địch trên quy mô toàn quốc. Trong đó, thanh niên là lực lượng tích cực nhất trong các Ủy ban hành động, trong việc thu thập các bản dân nguyện… Qua phong trào, uy tín của Đảng được nâng lên rõ rệt, lực lượng cán bộ, đảng viên được tập dượt và trưởng thành trong công tác hướng dẫn, tổ chức quần chúng đấu tranh hợp pháp trên diện rộng, đồng thời vẫn duy trì được các tổ chức bí  mật ( nông hội, công hội), đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng được phát triển thêm ở nhiều địa phương.

Để mở rộng công tác tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh công khai hợp pháp theo tinh thần Nghị quyết tháng 3/1937 của BCH TW Đảng, tháng 4/1937, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một cho ra bản tin “Tranh đấu”. Bản tin được viết tay, in bột. Nội dung bản tin là những tin tức về các cuộc vận động quần chúng, giải thích những chủ trương mới của Đảng, tố cáo tội ác của đế quốc Pháp, kêu gọi nhân dân tham gia các đoàn thể và đứng dậy đấu tranh… Một số thanh niên cốt cán được giao nhiệm vụ trong việc in ấn và đưa bản tin đến cơ sở, trong đó có chị Hồng.

Tỉnh ủy cũng chỉ đạo cho các chi bộ, các đảng viên vận động nhân dân thành lập các tổ chức hợp pháp đấu tranh cho quyền dân sinh, dân chủ. Tại thị xã Thủ Dầu Một, đồng chí  Nguyễn Văn Tiết và chi bộ Phú Cường đã vận động thợ lò chén, lò đường làm đơn xin nhà cầm quyền Pháp cho lập Hội ái hữu. Hội ái hữu thị xã Thủ Dầu Một ra đời với số hội viên ban đầu là 36, sau tăng lên đến hàng trăm người, bao gồm thợ lò đường, lò chén, thợ hớt tóc, thợ đánh giày. Hoạt động chủ yếu của hội là đoàn kết, tương trợ nhau trong cuộc sống, làm đơn thưa kiện khi các chủ lò vi phạm hợp đồng… Tiếp theo, Tỉnh ủy chỉ đạo cho nhân dân Lái Thiêu đưa các tổ chức hội ái hữu, hội tương tế đang từ hoạt động bí mật chuyển thành công khai, hợp pháp bằng cách làm đơn xin phép, đồng thời lập trụ sở hoạt động ngay mà không cần chờ bọn hội tề chấp thuận. Theo kinh nghiệm đó, tổ chức hội ái hữu, hội tương tế nhanh chóng phát triển ở Lái Thiêu, thị xã Thủ Dầu Một, B?n Cát, Châu Thành, H?n Qu?n,  Dầu Tiếng, Dĩ An với hàng ngàn hội viên.

Trong thời kỳ này, phong trào đấu tranh của công nhân tiếp tục phát triển mạnh với nhiều cuộc bãi công dài ngày của công nhân cao su Dầu Tiếng [1], công nhân nhà máy xe lửa Dĩ An[1], cuộc đấu tranh và đưa kiến nghị đòi tăng lương và cứu trợ tai nạn lao động của các thợ mộc ở Lái Thiêu (8/10/1937)… Ngoài ra, Tỉnh ủy còn lãnh đạo công nhân Dĩ An đấu tranh làm thất bại ý đồ phá hoại của bọn Trốt-kít, tổ chức nhiều cuộc tranh luận với bọn Trốt-kít Sài Gòn tại Lái Thiêu, vạch rõ bộ mặt tay sai phát- xít của chúng.

Bước sang năm 1938, Đa- la-đi-ê thuộc phái hữu Đảng Cấp tiến lên cầm quyền ở Pháp, thi hành nhiều chính sách trái với lợi ích của nhân dân Pháp. Ở Đông Dương, bọn phản động thuộc địa càng thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta.Trước tình hình đó, BCHTW Đảng triệu tập Hội nghị mở rộng lần thứ tư tại xã Tân Thới Nhứt (Bà Điểm). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, đề ra phương pháp tổ chức quần chúng, nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường củng cố cơ sở Đảng… Tháng 5/1938, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một họp Hội nghị mở rộng đến các Bí thư chi bộ, nhằm quán triệt Nghị quyết TW lần thứ tư. Hội nghị xác định một trong những hạn chế của tỉnh là chưa quan tâm đúng mức đến công tác quần chúng, chưa lập được hội phụ nữ, hội thanh niên… Từ đó, Hội nghị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đấu tranh của công nhân, nông dân qua các tổ chức Hội ái hữu, nghiệp đoàn, nông hội, đồng thời chú ý lập thêm các tổ chức Hội phụ nữ, Hội thanh niên, tiếp tục đấu tranh vạch mặt bọn Trốt-kít….

Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Thủ Dầu Một tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là đợt hoạt động sôi nổi kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1/5/1938. Nhằm mở rộng hơn nữa tổ chức và hình thức hoạt động hợp pháp, Tỉnh ủy chủ trương thành lập một tổ chức công khai chống nạn mù chữ. Cuối năm 1938, Hội truyền bá quốc ngữ lần lượt ra đời ở thị xã Thủ Dầu Một, thị trấn lái Thiêu, Bến Cát, Bến Súc, Tân Uyên… Thầy Võ Văn Đợi được Tỉnh ủy phân công phụ trách Hội. Hội thu nhận thêm nhiều hội viên là các thầy cô giáo và công chức yêu nước như các thầy Lê Văn Chương, Quách Văn Trĩ, Phạm Văn Thuấn, thầy giáo Tép (thị xã Thủ Dầu Một), thầy Phạm Văn Tiệm (Bến Cát)… Số lượng hội viên lên tới vài chục người[1]. Với các hoạt động phong phú như kêu gọi nhân dân ủng hộ quỹ mua tập vở, mở lớp dạy chữ quốc ngữ cho học trò nghèo và người lớn tuổi chưa biết chữ, Hội đã thu hút đông đảo nhân dân, công chức và thanh niên học sinh tham gia phong trào. Hội còn tổ chức nhiều nhóm thanh niên, học sinh đọc các sách báo tiến bộ, vận động nhau thực hiện nếp sống lành mạnh, không ăn chơi, đàng điếm… Hoạt động của Hội truyền bá quốc ngữ góp phần làm cho cuộc vận động dân chủ của ta thêm phần phong phú, đa dạng về hình thức, đồng thời, thu hút thêm một bộ phận đông đảo thanh niên các ngành, các giới, nhất là thanh niên trong học sinh, công chức, giáo chức vào phong trào đấu tranh rộng lớn của toàn dân.

Cuộc vận động dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận dân chủ Đông Dương tại tỉnh Thủ Dầu Một đã tập hợp được đại bộ phận nhân dân yêu nước trong tỉnh vào cuộc đấu tranh rộng lớn của toàn dân trong những năm 1936 – 1939, là tiền đề vững chắc cho cao trào cách mạng giải phóng dân tộc trong giai đoạn tiếp theo, mà đỉnh cao là cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc vào tháng 8/ 1945. Là lực lượng có mặt ở tất cả các ngành, các giới, thanh niên Th? D?u M?t luôn phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực tham gia, làm phong phú thêm các hoạt động đấu tranh công khai, dân chủ thời kỳ này.

 

THANH NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1939 – 1945)
Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ. Ở Đông Dương, thực dân Pháp ra sức bắt người, cướp của nhằm phục vụ cho chiến tranh đế quốc, đồng thời tăng cường đàn áp, khủng bố phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nhiều chiến sĩ cách mạng và quần chúng cảm tình của Đảng bị chúng bắt giam. Hàng loạt các tờ báo có xu hướng dân chủ và cách mạng bị đóng cửa. Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông Dương chính thức ra Nghị định giải tán các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn.

Chính sách vơ vét, bóc lột về kinh tế, khủng bố về chính trị của thực dân Pháp đã đặt cách mạng Việt Nam và Đông Dương trước một tình thế mới : khả năng đấu tranh công khai hợp pháp để đòi các quyền lợi dân sinh dân chủ không còn, trái lại, nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt của nhân dân ta là đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc Pháp và tay sai.

Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho các cơ quan và cán bộ đang hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, dựa vào nông thôn để xây dựng lực lượng và tiến hành công tác.

Tháng 11 / 1939, TW Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn). Trên cơ sở nhận định sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam và Đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc, chủ trương lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm tập hợp lực lượng cách mạng để thực hiện bạo động đánh đổ đế quốc, giành chính quyền về tay nhân dân khi có thời cơ. Sự chuyển hướng đúng đắn và kịp thời về chỉ đạo chiến lược của Đảng cùng với tình thế cách mạng ngày càng sôi sục đã chuyển cách mạng Việt Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc.

Thanh niên Thủ Dầu Một trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (11/1940)
Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức. Ở Đông Dương, do chiến tranh, hàng hóa thiếu, sản xuất đình đốn, cộng với các chính sách phản động của thực dân Pháp, làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân từ nông thôn đến thành thị đều hết sức khó khăn, nhiều thanh niên bị bắt lính phục vụ cho chiến tranh đế quốc. Tình hình đó khiến cho các tầøng lớp nhân dân đều muốn đứng lên đánh đổ thực dân Pháp, giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc.

Tháng 7/1940, Xứ ủy Nam kỳ triệu tập Hội nghị mở rộng tại ấp Tân Thuận, làng Tân Hương, tỉnh Mỹ Tho. Trên cơ sở nhận định tình hình và đánh giá lực lượng cách mạng tại chỗ, Hội  nghị chủ trương khởi nghĩa. Sau hội nghị, đồng chí Phan Đăng Lưu được cử ra Bắc để dự Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 7, đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của TW Đảng, trong khi đó, vẫn chuẩn bị tiến hành khởi nghĩa theo kế hoạch.

Trong khi nhân dân Nam bộ đang tích cực chuẩn bị khởi nghĩa thì ngày 27/9/1940, nhân dân Bắc Sơn khởi nghĩa. Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam kỳ họp hội nghị mở rộng từ ngày 21 đến ngày 25/ 9 /1940 tại ấp Xuân Thới Đông, tỉnh Gia Định. Hội nghị quyết định tiến hành khởi nghĩa, chủ trương tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt và giao cho Thường vụ Xứ ủy chọn ngày và ban bố lệnh khởi nghĩa.

Ngày 20/11/1940, lệnh khởi nghĩa được gởi đến các địa phương, quyết định khởi nghĩa trên toàn xứ vào lúc nửa đêm 22/11/1940. Lúc bấy giờ, đồng chí Phan Đăng Lưu được chỉ thị của TW Đảng yêu cầu hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì nhận thấy ở Nam kỳ chưa hội đủ những điều kiện bảo đảm thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa. Nhưng khi đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã được truyền đạt tới cơ sở. Hầu hết các tỉnh Nam kỳ đều nhận được lệnh khởi nghĩa trước đêm 22 và tiến hành khởi nghĩa theo kế hoạch. Riêng Sài Gòn, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ do có gián điệp của Pháp chui vào tổ chức. Trong ngày 22/11, chúng tổ chức canh gác nghiêm ngặt, tước vũ khí của binh lính người Việt, đồng thời, cho vây ráp khắp nơi, lùng bắt những người cộng sản. Do đó, khởi nghĩa không nổ ra ở thành phố. Tuy vậy, 18/21 tỉnh thành trong toàn xứ đã đồng loạt khởi nghĩa.

Tại Thủ Dầu Một, Tỉnh ủy chọn quận Lái Thiêu làm trọng điểm khởi nghĩa. 19 giờ tối 23/11/1940, Ban chỉ đạo khởi nghĩa của tỉnh đã tổ chức một cuộc mít – tinh lớn tại chùa Long giao (thuộc ấp Bình Giao, làng Thuận Giao, quận Lái Thiêu – nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương) nhằm kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Hàng trăm người, trong đó có nhiều hội viên thanh niên phản đế đến dự. Một tổ thanh niên phản đế khoảng 10 người được trang bị gươm, giáo, gậy tầm vông và 2 khẩu súng trường được phân công bảo vệ cuộc mít – tinh.

Sau cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa của Tỉnh ủy, nhân dân nhiều  nơi trong tỉnh đồng loạt nổi dậy phá hoại trật tự, an ninh của chính quyền địch. Nhân dân treo cờ đỏ sao vàng, dán truyền đơn, khẩu hiệu, phát loa tố cáo tội ác của giặc Pháp, phá trụ sở tề làm chúng phải bỏ chạy lên quận.  Công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng bãi công 3 ngày đòi tăng lương, giảm giờ làm và chống đàn áp khởi nghĩa. Nông dân Định Thành (Dầu Tiếng) đấu tranh đòi giảm thuế, chống bắt lính, chống đàn áp… Thanh niên ấp Kiến Điền, làng An Điền (Thanh Tuyền – Bến Cát) do anh Nguyễn Tấn Bộ tổ chức đã bí mật phá đứt nhiều đoạn đường dây thép dọc đường lộ từ Bến Cát đến Bến Súc. Ban đêm, thanh niên hô hào và cùng đồng bào nông dân nổi trống mõ, thùng thiếc hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của đồng bào Gò Vấp, Hóc Môn. Thanh niên làng Định Thành, Bến Súc được chi bộ Đảng Dầu Tiếng tổ chức rải truyền đơn phản đối chiến tranh, chống bắt lính. Nhân dân làng Tân Khánh (Châu Thành) treo cờ đỏ sao vàng tại chợ, ngã cây cản đường quân địch đi khủng bố. Nhân dân một số làng ở Tân Uyên, với lực lượng cán bộ, đảng viên làm nòng cốt và sự hỗ trợ của 1 tiểu đội võ trang do đồng chí  Trần Văn Quỳ chỉ huy đã nổi dậy, tiến vào trụ sở quận Tân Uyên uy hiếp địch. Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, hàng trăm thanh niên binh lính người Việt trong Thành Săn Đá thị xã Thủ Dầu Một đã chống lại lệnh của bọn chỉ huy điều ra mặt trận Thái lan hoặc điều đi đàn áp đồng bào khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại vì nổ ra không đúng thời cơ, chưa có sự hợp đồng chặt chẽ giữa các địa phương trên toàn quốc. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa đã gây tiếng vang lớn, thể hiện quyết tâm và ý chí của toàn dân tộc. Qua cuộc khởi nghĩa, nhân dân và thanh niên Bình Dương được thử thách, trưởng thành hơn  để bước vào giai đoạn cách mạng sôi động tiếp theo.

2 . Hoạt động của Đoàn SET ( Đoàn Hùng) trong thanh niên học sinh Thủ Dầu Một

Cuối năm 1940, Nhật xâm lược Đông Dương. Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật, đẩy nhân dân ta vào tình cảnh “ một cổ hai tròng”. Thực hiện chính sách mị dân, Pháp cho lập các Hội truyền bá quốc ngữ, đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao với khẩu hiệu “ôkhỏeể phụng sự Tổ quốc”… Được sự lãnh đạo của Đảng, giới trí thức yêu nước Việt Nam nhanh chóng lợi dụng các tổ chức hợp pháp này để tuyên truyền, khơi dậy tinh thần dân tộc trong toàn dân.

Tại Sài Gòn, từ năm 1939, một số thanh niên học sinh người Nam bộ học ở Hà Nội như các anh Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước… trong dịp về quê nghỉ hè đã giúp đỡ thanh niên học sinh trường Pétrus Ký tổ chức Câu lạc bộ học sinh do ông Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Năm 1940, trường Pétrus Ký thành lập một tổ chức học sinh yêu nước gọi là Đoàn SET hay còn gọi là Đoàn Hùng (chữ SET viết tắt từ “Section d’excursion et de tourisme” tức đoàn tham quan và du lịch) do anh Trịnh Kim Aûnh, học sinh của trường, quê ở Thủ Dầu Một và các anh Nguyễn Văn Anh, Võ Thế Quan phụ trách. Anh Trịnh Kim Aûnh là Đoàn trưởng. Hoạt động chủ yếu của Đoàn Hùng là tập đàn, hát những bài ca yêu nước, nhất là những bài ca do sinh viên – nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác; tập diễn kịch với các vở kịch khơi dậy truyền thống  bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc như vở “Đêm Lam Sơn”, “Nợ Mê Linh”, “ Hội nghị Diên Hồng”… Đoàn còn tổ chức đi cắm trại, tham quan du lịch, thăm các di tích lịch sử… Qua đó, cùng nhau ôn lại lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, nhắc nhở những tấm gương yêu nước, bất khuất của cha ông nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước trong học sinh, sinh viên. Phong trào Đoàn Hùng trường Pétrus Ký nhanh chóng lan rộng ra nhiều trường công, tư ở Sài Gòn, các tỉnh lân cận và các thành phố lớn ở Nam bộ như Biên Hòa, Cần Thơ, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một…[1]  Ở Thủ Dầu Một, năm 1944, anh Trịnh Kim Aûnh sau khi đỗ Tú Tài đã về dạy học tại trường tư thục Thanh Trước. Tại đây, thầy Trịnh Kim Aûnh cùng một số thầy giáo trẻ, nhiệt tình đứng ra vận động, tổ chức học sinh và các thầy giáo, lập ra tổ chức “Đoàn Hùng” của trường, do thầy Phan Quốc Quân làm thủ lĩnh; Ban phụ trách còn có thầy Trịnh Kim Aûnh và một số người khác.

Hoạt động sôi nổi của Đoàn Hùng trong khuôn khổ du lịch, thể thao, văn nghệ đã có ảnh hưởng rộng lớn, khơi dậy lòng yêu nước trong học sinh, sinh viên các trường trong tỉnh và cả thanh niên các làng chung quanh tỉnh lỵ. Thanh niên được chuẩn bị thêm một bước về tinh thần dân tộc và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ để sẵn sàng bước vào cuộc cách mạng to lớn của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng –  Cách mạng Tháng Tám, tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

 

III. VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở THỦ DẦU MỘT (THÁNG 8/ 1945)

 

1- Sự hình thành, phát triển và hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa của các tổ chức Thanh niên cứu quốc, Thanh niên tiền phong Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng

 

*Sự hình thành tổ chức Thanh niên cứu quốc

Sau thời kỳ “tạm lắng” do sự khủng bố đẫm máu của thực dân Pháp trong khởi nghĩa  Nam kỳ, từ cuối năm 1942, các nhóm đảng viên hoạt động  bí mật của Thủ Dầu Một đã tích cực xúc tiến thành lập lại Tỉnh ủy để thống nhất lãnh đạo nhân dân trong tỉnh chuẩn bị khởi nghĩa  theo tinh thần các Nghị quyết hội nghị BCHTW Đảng, nhất là Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 8 (5/1941).  Đầu năm 1943, Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một được tuyên bố thành lập, đồng chí Văn Công Khai  là Bí thư. Các chi bộ và các tổ chức  quần chúng lần lượt được gây dựng lại. Chủ trương của  TW Đảng và Xứ ủy về thành lập Mặt trận Việt minh được Tỉnh ủy tổ chức thực hiện theo phương châm:  nơi nào đã phục  hồi được cơ sở Đảng, thì  chọn các nòng cốt trong phong trào quần chúng, lập ra các hội cứu quốc (hội Thanh niên cứu quốc, hội Công nhân cứu quốc, hội Phụ nữ cứu quốc…). Bước đầu, từ các quần chúng tốt trong Hội truyền bá quốc ngữ, trong các Uûy ban hành động, Công hội, Nông hội cũ, ta thành lập ra các nhóm cứu quốc. Đến đầu năm 1945, Hội Thanh niên cứu quốc và các đoàn thể cứu quốc khác lần lượt  hình thành và phát triển, hoạt động  bí mật  ở các làng Phú Cường, Hiệp Thành ( nội ô thị xã), Bình Nhâm, Thuận Giao, An Sơn, An Thạnh, Tân Thới, nhà máy xe lửa Dĩ An (Bến Cát), Mỹ Quới, Phước Hòa và Sở cao su Phước Hòa (Tân Uyên)… Các hội viên cứu quốc tích cực vận động nhân dân tham gia đấu tranh chống Pháp, Nhật, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Bên cạnh hội thanh niên cứu quốc, tuổi trẻ Thủ Dầu Một còn được tập hợp rộng rãi trong các hội truyền bá quốc ngữ, hội đá banh, hội ca cải lương …  Hội truyền bá quốc ngữ hình thành và hoạt động  mạnh trong thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương, nay tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở thị xã Thủ Dầu Một và Lái Thiêu, Bến Cát… Thời kỳ này, Tỉnh ủy đặc biệt chú trọng công tác vận động thanh niên[1], nhờ vậy, cuối năm 1944, Đoàn Thanh niên cứu quốc đã được thành lập. Tuy nhiên, do sự phá hoại của địch, tổ chức  Đoàn chỉ hoạt động  lẻ tẻ ở một số nơi, chưa phát huy cao ảnh hưởng đối với các tầng lớp trẻ[1].

*Sự hình thành tổ chức  Thanh niên tiền phong

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Trước những hoạt động mạnh mẽ của Thanh niên cứu quốc và các lực lượng thanh niên tiến bộ ở Miền Nam, tháng 5/1945, bọn Nhật gợi ý cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra tập hợp thanh niên trong một tổ chức công khai hợp pháp nhằm lôi kéo lực lượng này  chống lại ảnh hưởng ngày càng lớn của Việt Minh. Nắm lấy thời cơ, các đồng chí lãnh đạo Xứ uỷ Nam kỳ chủ trương cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và một số thanh niên yêu nước như bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, sinh viên Huỳnh Văn Tiểng… đứng ra thành lập tổ chức “ Thanh niên tiền phong” và nắm lấy tổ chức này để tập hợp quần chúng, trước hết là thanh niên nhằm chuẩn bị lực lượng cho khởi nghĩa. Chủ trương của Xứ ủynhanh chóng được triển khai ở tất cả các tỉnh Nam kỳ, trở thành phong trào sôi nổi của thanh niên trong cao trào quần chúng chuẩn bị nổi dậy giành lại chính quyền từ tay giặc.

Tháng 5/1945, Tỉnh ủy Thủû Dầu Một thực hiện chủ trương của Xứ ủy về thành lập Thanh niên tiền phong. Tại thị xã Thủ Dầu Một, Ban phụ trách Đoàn Hùng, nhất là thầy Trịnh Kim Aûnh đã tìm cách liên lạc với tổ chức Thanh niên tiền phong vừa được thành lập ở Sài Gòn. Được sự đồng ý của Tỉnh ủy và sự giúp đỡ của Thanh niên tiền phong Sài Gòn, Thanh niên tiền phong thị xã Thủ Dầu Một được thành lập, do thầy Phan Quốc Quân phụ trách. Vài tuần sau,  Phan Quốc Quân bị Nhật lôi kéo, có biểu hiện thân Nhật nên Ban phụ trách Đoàn và toàn Đoàn đòi thay thủ lĩnh. Phan Quốc Quân buộc phải từ chức, Đoàn bầu anh Thức lên thay. Gần 1 tháng sau, được sự tín nhiệm của toàn Đoàn, anh Trịnh Kim Aûnh, một nhà giáo trẻ, yêu nước được thanh niên cử làm thủ lĩnh. Tổ chức Thanh niên tiền phong nhanh chóng phát triển khắp toàn tỉnh. Huyện Bến Cát, chỉ trong thời gian không đầy 1 tháng, đã vận động được hơn 60 thanh niên  thuộc 4 ấp và 2 sở cao su nằm về phía đông xã Chánh Phú Hòa[1] tham gia lực lượng. Đến tháng 8/ 1945, trong toàn tỉnh đã có 148 cơ sở Thanh niên tiền phong đứng chân ở các làng xã nông thôn, các thị xã, trị trấn và các đồn điền, nhà máy với hơn ba vạn đoàn viên thuộc mọi tầng lớp. Trong đó, đông đảo nhất là thanh niên công nhân, nông dân, trí thức; có cả thanh niên các tầng lớp trên và thanh niên công giáo. Quận Hớn Quản xây dựng được 1 tổ chức thanh niên trong các dân tộc thiểu số, do thầy giáo Chenen làm thủ lĩnh (tổ chức này không lấy tên Thanh niên tiền phong mà được gọi là “Người Việt Nam mới”[1]).

Thanh niên tiền phong Thủ Dầu Một hoạt động theo mục đích chung c?a Thanh niên ti?n phong là tổ chức và huấn luyện thanh niên về tinh thần, tư tưởng, văn nghệ, thể dục thể thao, hướng tuổi trẻ vào các công tác xã hội như truyền bá quốc ngữ, truyền bá kiến thức vệ sinh, y tế, luyện tập quân sự [1]…  Tháng 8/1945, trong một cuộc họp gồm đại biểu các giới trong tỉnh, đồng chí  Văn Công Khai, thay mặt Mặt trận Việt Minh tỉnh đã tuyên bố thành lập Đoàn Thanh niên tiền phong của tỉnh, kết nạp Đoàn vào Mặt trận Việt Minh, đồng thời giới thiệu anh Trịnh Kim Aûnh làm thủ lĩnh. Trong khi đó, các hội thanh niên cứu quốc vẫn tiếp tục phát triển và hoạt động bí mật  trên các địa bàn Tân Uyên, Thủ Dầu Một, Dĩ An…  Từ đây, lực lượng Thanh niên tiền phong  cùng với các Hội cứu quốc hợp thành một đội quân cách mạng hùng hậu, áp đảo quân Nhật trong những ngày chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

* Thanh niên cứu quốc, Thanh niên tiền phong tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Thanh niên tiền phong tỉnh Thủ Dầu Một đã đấu tranh, vận động làm thất bại âm mưu lôi kéo thanh niên ta vào các tổ chức phản động của Nhật[1]. Ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, cán bộ Đoàn Thanh niên tiền phong trong công nhân đã tổ chức các buổi nói chuyện, biểu diễn văn nghệ nhằm cổ động tinh thần khởi nghĩa trong công nhân và nông dân  các làng lân cận. Tại thị xã Thủ Dầu Một, đồng chí Trịnh Kim Aûnh, thủ lĩnh Thanh niên tiền phong của tỉnh đã tổ chức nhiều buổi diễn thuyết nhằm khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của thanh niên,  học sinh trước vận mệnh của Tổ quốc. Thanh niên tiền phong còn tổ chức mít tinh, biểu diễn văn nghệ, kể chuyện về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, làm lễ tuyên thệ tỏ rõ ý chí và quyết tâm đấu tranh cho độc lập tự do của Tổ quốc, tổ chức các buổi tranh luận với Đoàn TNTP thân Nhật, qua đó, thu hút được nhiều thanh niên và gia đình tham gia vào các tổ chức cứu quốc, hạn chế sự phá hoại của địch. Các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng cũng diễn ra công khai, sôi nổi ở nhiều nơi khác trong tỉnh như ở các thị trấn Tân Uyên, Bến Cát, nhà máy xe lửa Dĩ An, các đồn điền cao su… làm cho không khí khởi nghĩa lan rộng trên toàn tỉnh trong những ngày tháng tám, khiến  cho bọn Nhật và quân đội tay sai không dám ngang nhiên đàn áp, bắt bớ người của ta trong các hoạt động trên như trước nữa.

Để thiết thực chuẩn bị thực lực cho khởi nghĩa giành chính quyền khi có thời cơ theo chủ trương của TW Đảng  và phong trào “sắm vũ khí, đuổi thù chung” do Mặt trận Việt Minh phát động, Tỉnh uỷ Thủ TWu Một chủ trương lập đội tự vệ, trang bị vũ khí và khẩn trương huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị cho thanh niên. Phong trào “quân sự hóa” diễn ra sôi nổi trong  tổ chức Thanh niên tiền phong và Thanh niên cứu quốc[1]. Các đoàn viên tự trang bị vũ khí và tích cực luyện tập võ nghệ. Vũ khí chủ yếu là gậy tầm vông, dao găm, gươm do các lò rèn trong tỉnh tự rèn. Ngoài ra, các cụ già và nhiều nam nữ thanh niên đã tích cực tham gia công tác binh vận để lấy súng địch, tổ chức cướp súng đạn của giặc hoặc đào lấy súng đạn của quân Pháp chôn giấu lúc bị Nhật đảo chính… đem về trang bị cho Thanh niên tiền phong trong công nhân, nông dân, lập ra một đơn vị tự vệ của tỉnh. Thanh niên được tổ chức canh gác, giữ gìn an ninh trật tự, học đánh võ, bắn súng, ném lựu đạn, học cách thức tuần tra, canh gác. Về chính trị, các cán bộ đoàn hoặc các đồng chí trong Tỉnh ủy tổ chức cho thanh niên học tập  về chương trình của Việt Minh, về Đoàn thanh niên tiền phong, về chủ trương và nhiệm vụ trong khởi nghĩa…

Nhờ sự tích cực chuẩn bị lực lượng, đến tháng 8/ 1945, trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một đã hình thành một lực lượng bán vũ trang gồm  hàng  vạn đoàn viên Thanh niên tiền phong, hội viên Thanh niên cứu quốc, (được trang bị gậy tầm vông, dao găm, gươm, một ít súng), cùng với một đơn vị tự vệ tỉnh, một đội du kích ở Tân Uyên (gồm 10 người với 7 khẩu súng trận, 1 khẩu súng săn) và một lực lượng chính trị hùng hậu bao gồm mọi tầng lớp nhân dân mà đa số là công nhân, nông dân, trí thức đã được Đảng giác ngộ và lãnh đạo.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng , thanh niên Bình Dương đang sôi sục khí thế cách mạng, sẵn sàng cùng nhân dân trong tỉnh và nhân dân toàn quốc bước vào cuộc tổng khởi nghĩa.

1- Lực lượng thanh niên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành cuộc khởi nghĩa  giành chính quyền Tháng Tám /1945

Trong khi nhân dân ta đang khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho tổng khởi nghĩa  giành chính quyền, tình hình thế giới ngày càng chuyển biến thuận lợi cho cách mạng. Trên chiến trường châu Aâu, ngày 9/5/1945, Đức đầu hàng đồng minh. Ngày 14/8/1945, trên mặt trận Thái Bình Dương, Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng  khai mạc ở Tân Trào (Tuyên Quang). Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị quyết định lợi dụng thời cơ  bọn Nhật ở Đông Dương đang như rắn mất đầu, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân khi quân đồng minh chưa đổ bộ vào Việt Nam để giải giới quân Nhật.

Đêm 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra lệnh tổng khởi nghĩa.

Lúc này, trên toàn quốc  cũng như riêng ở Thủ Dầu Một, tinh thần binh lính Nhật ngày càng sa sút, các tổ chức ngụy quân, ngụy quyền bắt đầu rệu rã. Các tổ chức quần chúng trong Mặt trận Việt Minh, các đoàn Thanh niên tiền phong đang sẵn sàng chờ lệnh. Ngày 17 và 18/8/1945, Xứ ủy Nam kỳ quyết định khởi nghĩa. Đêm 23/ 8, Tỉnh ủy Thủ dầu Một họp mở rộng tại chợ Bưng Cầu  (xã Tương Bình Hiệp) để kiểm điểm lại lực lượng, phân công cán bộ, lập Ủy ban khởi nghĩa để chỉ đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh. Riêng đối với lực lượng thanh niên, Tỉnh ủy chỉ đạo cho các Đoàn Thanh niên tiền phong chuẩn bị mọi mặt: về tinh thần, thanh niên phải có tinh thần quyết thắng; về tổ chức, Đoàn Thanh niên tiền phong phải có tổ chức quy củ, chặt chẽ; về vũ khí, mỗi đoàn viên phải tự trang bị vũ khí để tham gia khởi nghĩa[1]. Các đoàn viên ngày đêm may cờ, phù hiệu để trang bị cho các lực lượng trong ngày khởi nghĩa.

Đêm 24/8/1945, lực lượng quần chúng do các Hội cứu quốc, các đoàn Thanh niên tiền phong và các đơn vị bán vũ trang làm nòng cốt từ các làng thuộc Bến Cát, Lái Thiêu, Châu Thành…. hàng ngũ chỉnh tề, tiến về thị xã Thủ Dầu Một, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu : “Việt Nam độc lập muôn năm”, “ủng hộ Mặt trận Việt Minh”. Trong đoàn quân khởi nghĩa, lực lượng Thanh niên tiền phong mặc đồng phục sơ mi trắng ngắn tay, quần sọt xanh, nón bàng, tay cầm dao găm,  tầm vông vạt nhọn và một số súng cướp được từ tay Nhật, Pháp, hội tề. Khí thế khởi nghĩa thật là dũng mãnh! Có nơi, như ở Suối Giữa, lực lượng khởi nghĩa xã Tương Bình Hiệp đã chặn đầu xe chở lính Nhật, buộc chúng đầu hàng, dù lực lượng ta chỉ có vũ khí thô sơ và duy nhất một cây súng. Trong nội ô thị xã, nhân dân đã treo cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm, dán khẩu hiệu trên các đường phố, các chợ… Rạng sáng ngày 25/8, lực lượng cách mạng với hơn 5 vạn người, được sự bảo vệ của Ban quân sự Tỉnh ủy và 500 cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị bán vũ trang đã đứng chật trên các đường phố lớn, nhỏ của thị xã. Đúng 7 giờ sáng, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức trọng thể trước Tòa thị chính quận Châu Thành (xã Phú Cường). Đồng chí Văn Công Khai, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban khởi nghĩa, đọc diễn văn tuyên bố chính quyền về tay nhân dân.

Sau cuộc mít tinh, quần chúng khởi nghĩa tổ chức diễu hành biểu dương lực lượng và mừng độc lập trên đường phố suốt mấy giờ liền. Sau đó, theo sự phân công của Ủy ban nhân dân tỉnh, các đoàn Thanh niên tiền phong, các hội viên cứu quốc chia nhau đi tiếp quản các cơ quan hành chính, cảnh sát, Tòa án, đồn cộng hòa vệ binh, trại giam, kho bạc, các nhà máy điện, nước, bưu điện…

Như vậy, ngày 25/8/1945, nhân dân Thủ Dầu Một đã giành được chính quyền trong toàn tỉnh, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử.

Với Cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Sau hàng trăm năm sống kiếp nô lệ, nhân dân ta lại là người chủ của một quốc gia độc lập. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động được làm chủ vận mệnh của mình. Thắng lợi đó là thành quả đấu tranh cách mạng của toàn dân từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN (1930 – 1945). Trong thời kỳ này, thanh niên Thủ Dầu Một từng bước giác ngộ lý tưởng cộng sản, góp phần  gây dựng và phát triển các tổ chức cộng sản đầu tiên của tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuổi trẻ Thủ Dầu Một tích cực tham gia các cao trào cách mạng nhằm tích lũy thực lực về mọi mặt cho thời cơ nổi dậy giành chính quyền. Thanh niên là lực lượng xung kích, hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân trong cuộc vận động dân chủ và trong khởi nghĩa Nam kỳ. Trong cách mạng tháng Tám, Thanh niên Tiền phong là lực lượng xung kích bên cạnh lực lượng chủ chốt là các Hội cứu quốc của thanh niên, công nhân, nông dân, phụ nữ… Từ nay, thanh niên Thủ Dầu Một  càng có điều kiện để thể hiện và phát huy  vai trò rường cột của nước nhà trong một quốc gia độc lập.

Chương II

HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỨU QUỐC VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN TỈNH THỦ DẦU MỘT TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 – 1954)

 

THANH, THIẾU NIÊN THỦ DẦU MỘT THAM GIA XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1945 – 1946)
Thanh niên tham gia xây dựng chính quyền – chuẩn bị lực lượng
Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Thủ Dầu Một ngày 25/8/1945 đã hoàn toàn thắng lợi. Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh  bắt tay ngay vào công cuộc ổn định trật tự trị an, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.

Trong cuộc mít tinh trọng thể tổ chức trước công sở Phú Cường mừng ngày đất nước hoàn toàn độc lập (ngày 2/9/1945), danh sách Ủy ban nhân dân lâm thời cấp tỉnh được công bố, bao gồm một số trí thức, nhân sĩ yêu nước có uy tín với nhân dân và những người cộng sản. Ủy ban nhân dân tỉnh xúc tiến chỉ đạo việc  xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng các cấp, nhằm nhanh chóng ổn định trật tự và chăm lo xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Với khí thế cách mạng sôi nổi, chỉ trong một thời gian ngắn, hệ thống chính quyền cách mạng từ tỉnh đến tổng (huyện ), làng (xã) được xây dựng và củng cố. Ở cấp tổng, Ủy ban nhân dân được chỉ định hoàn toàn mới hoặc có nơi ta sử dụng lại các cai tổng cũ, nhưng cử thêm cán bộ hoạt động trong phong trào thanh niên tiền phong làm kiểm soát viên của Ủy ban nhân dân tổng. Ủy ban nhân dân cấp xã được nhân dân địa phương bầu công khai. Tỉnh ủy lâm thời cũng đặc biệt chú trọng việc củng cố tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng. Tỉnh bộ Việt Minh do đồng chí Nguyễn Đức Nhàn làm chủ nhiệm. Tổ chức Việt Minh ở cấp tổng, cấp xã nhanh chóng được xây dựng, làm chỗ dựa cho chính quyền nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Mặt trận Việt Minh,  toàn dân hăng hái tham gia các đoàn thể quần chúng , tích cực  thực hiện các phong trào cách mạng[1] nhằm xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân vừa được khai sinh. Nổi bật nhất là hoạt động của các tổ chức Đoàn Thanh niên tiền phong, Hội Phụ nữ và tổ chức Công đoàn. Thanh niên trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào tăng gia sản xuất cứu đói, ủng hộ quỹ độc lập, xóa nạn mù chữ, trong các đội vũ trang tự vệ làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh đường phố, xóm làng.

Lúc bấy giờ, tại Sài Gòn, quân Anh thay mặt lực lượng đồng minh làm nhiệm vụ giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 vào Nam có nhiều dấu hiệu chống đối chính quyền cách mạng của ta, công khai giúp đỡ, trang bị vũ khí cho binh lính Pháp vừa được họ giải thoát từ các nhà tù của Nhật. Trước tình hình đó, Ủy ban nhân dân Nam bộ một mặt cố kìm chế, tránh khiêu khích, một mặt chỉ đạo cho các địa phương tích cực  chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất có thể xảy ra nhằm bảo vệ chính quyền, bảo vệ nền độc lập vừa giành được sau hơn 80 năm nô lệ dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân. Được sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Nam bộ, Cấp ủy và Ủy ban lâm thời tỉnh Thủ Dầu Một đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng công an, quân đội. Do thiếu sự chỉ đạo thống nhất, đồng thời, xuất phát từ lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, ở Thủ Dầu Một (cũng như nhiều địa phương khác ở Nam bộ), các địa phương trong tỉnh đều khẩn trương xây dựng lực lượng võ trang và bán võ trang, với nhiều tên gọi không thống nhất. Thanh niên trong tỉnh hăng hái gia nhập các lực lượng : bộ đội cao su, bộ đội Bến Cát, bộ đội Bắc Hải, bộ đội thiểu số… Ở tỉnh, có đội xung phong Đề Thám và lực lượng dân quân tỉnh do đồng chí  Kiều Đắc Thắng chỉ huy [1] . Về lực lượng công an, ta có Ty liêm phóng, sau đổi thành Quốc gia tự vệ cuộc (cấp tỉnh và các cấp địa phương), đến năm 1946, đổi tên thành Ty Công an. Lúc bấy giờ, lực lượng vũ trang ta hầu như hoàn toàn dựa vào dân mà tồn tại. Trang bị chủ yếu là vũ khí thô sơ như  tầm vông vạt nhọn, dao mác, cung tên…. và một số súng ống, đạn dược do các đơn vị tự tổ chức lấy được từ tay Nhật, hoặc mua của quân Nhật bằng tiền hoặc bằng lương thực, thực phẩm…

Chính quyền cách mạng còn non trẻ, lực lượng vũ trang nhỏ, yếu, trang bị thô sơ, nhưng lòng yêu nước và ý chí bảo vệ độc lập, tự do là thứ vũ khí tinh thần mạnh nhất giúp toàn dân, toàn quân Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên quyết cùng cả nước bước vào cuộc chiến không cân sức với kẻ thù xâm lược.

Chi viện cho mặt trận Sài Gòn – Gia Định
Đêm 22 rạng ngày 23/ 9/ 1945, được sự hỗ trợ của lực lượng đồng minh Anh, một số đơn vị quân đội Pháp vừa được xây dựng lại nổ súng tấn công trụ sở Ủy ban nhân dân Nam bộ và một số công sở, cứ điểm quan trọng tại Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Sáng ngày 23/ 9, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân Nam bộ và đại diện của Tổng bộ Việt Minh họp, quyết định thành lập Ủy ban kháng chiến Nam bộ, do ông Trần Văn Giàu làm Chủ tịch[1]. Ngay sau đó, Ủy ban kháng chiến ra Lời hiệu triệu, kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Thực hiện chỉ thị của Xứ ủy và UBKC Nam bộ, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một kêu gọi nhân dân sẵn sàng chiến đấu chống quân cướp nước, chuẩn bị thực lực về mọi mặt để chi viện cho Mặt trận Sài Gòn – Gia Định, đồng thời lập phòng tuyến chiến đấu chống giặc ở các khu vực xung quanh tỉnh lỵ. Hàng trăm thanh niên Thủ Dầu Một đáp lời kêu gọi của Tổ quốc, tiếp tục tình nguyện gia nhập các đơn vị chiến đấu, ngày đêm hăng hái luyện tập kỹ thuật quân sự và tích cực tìm nhiều cách để mua hoặc cướp súng của Nhật, tự vũ trang cho đơn vị. Để tăng cường  công tác giữ gìn trật tự trị an và bảo vệ chính quyền, Tỉnh ủy tổ chức tuyển chọn một số thanh niên hăng hái, tích cực nhất, xây dựng thành đội trinh thám (do anh Nguyễn Văn Tri phụ trách), làm nhiệm vụ theo dõi, bắt giữ những tên Việt gian phản quốc, cấu kết với đế quốc, phá hoại chính quyền cách mạng. Đội trinh thám đã bắt được 2 tên Trốt-xkít và một số tên phòng nhì của Pháp, góp phần giữ vững an ninh chính trị trong những ngày ta chưa rút vào chiến khu.

Ở Sài Gòn, quân dân ta kiên quyết chiến đấu, hình thành các mặt trận vành đai, vây chặt địch trong nội ô thành phố. Nhân dân Thủ Dầu Một cùng nhân dân cả nước tích cực chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Đội thanh niên trinh thám Thủ Dầu Một chuyển sang phụ trách việc tiếp tế lương thực, vũ khí thô sơ và thay quân cho mặt trận. Thanh niên dân tộc thiểu số học ở trường tiểu học  thị xã Thủ Dầu Một ngày đêm tự tạo  các loại vũ khí thô sơ (ná, tên tẩm độc) để kịp gởi ra chiến trường. Trong các trận chiến oanh liệt của ta ở Cầu Thị Nghè, Cầu Bông (Sài Gòn) có mặt các lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một, đặc biệt là có cả đội vũ trang của những thanh niên dân tộc Xtiêng với ná và tên tẩm độc, chỉ cần sướt da, chảy máu là giết được giặc, làm cho chúng vô cùng khiếp sợ. Khi giặc Pháp từ nội ô Sài Gòn cố gắng mở rộng phạm vi lấn chiếm, ở phía bắc và đông bắc Sài Gòn, ta lập phòng tuyến chặn địch tại cầu Bến Phân (Hốc Môn). Các xã thuộc huyện Lái Thiêu nằm ven sông Sài Gòn, nhất là xã An Sơn, trở thành hậu phương trực tiếp của mặt trận này. Bến Bình Nhang (An Sơn) thường xuyên tiếp nhận các đoàn ghe vận chuyển lương thực, thực phẩm từ Miền Trung và Miền Tây Nam bộ về cập bến với đầy ắp hàng hóa. Lương thực, thực phẩm được tạm bảo quản, sau đó phân phối chi viện cho chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại mặt trận Cầu Bến Phân; một phần  cung cấp cho các đơn vị trong tỉnh đang trên đường ra mặt trận, tạm dừng chân ở An Sơn, hoặc để cung cấp cho các đơn vị từ mặt trận về bồi dưỡng, củng cố lực lượng tại đây. Nhân dân  An Sơn , trong đó có nhiều nữ thanh niên, tích cực tham gia lực lượng tiếp tế hậu cần cho bộ đội, chiến sĩ. Khi phòng tuyến Cầu Bến Phân bị phá vỡ, xã An Sơn trở thành chiến khu đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một. Nhân dân An Sơn đã đem hết sức mình  phục vụ cho các cơ quan, đơn vị tạm dừng chân ở đây. Thanh niên nam, nữ hăng hái gia nhập lực lượng tự vệ chiến đấu, canh gác, tra xét người lạ mặt, bảo vệ chiến khu. Trong những ngày này, trung đội nữ  tự vệ An Sơn, một trong những đội dân quân tự vệ nữ đầu tiên của tỉnh đã ra đời. Ngoài ra, nữ thanh niên còn là lực lượng tích cực cùng các mẹ, các chị làm công tác nuôi quân.

Trong những ngày này, thanh niên Thủ Dầu Một còn cùng toàn dân thể hiện cao nhất lòng yêu nước, ý chí bảo vệ độc lập dân tộc với những cử chỉ cảm động: nhiều chị em nữ đem cả vòng vàng, nhẫn cưới hoặc những kỷ vật thiêng liêng nhất của gia đình ra ủng hộ “Tuần lễ vàng”, rồi tham gia phong trào “bánh ổ cho tiền tuyến”, quyên góp đồ đồng thau cho xưởng quân giới làm vũ khí…

Sự chi viện sức người, sức của của nhân dân cả nước, trong đó có thanh niên và nhân dân Thủ Dầu Một, đã góp phần quan trọng trong cuộc chiến đấu giam chân địch ở Sài Gòn – Gia Định trong những ngày đầu kháng chiến. Qua đó, tinh thần đoàn kết chiến đấu và quyết tâm bảo vệ độc lập  dân tộc  được khơi dậy và phát huy đến đỉnh cao, trở thành sức mạnh tinh  thần to lớn bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ sau này.

Chiến đấu chống Pháp tạitỉnh nhà, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân
Chiếm được Sài Gòn, thực dân Pháp bắt đầu tiến đánh các tỉnh xung quanh. Ngày 25/ 10/ 1945, quân Pháp tấn công Thủ Dầu Một bằng 3 mũi : mũi thứ nhất từ Biên Hòa qua Tân Ba, Tân Khánh tiến về thị xã Thủ Dầu Một; mũi thứ hai từ Thủ Đức qua Gò Dưa, chiếm Lái Thiêu rồi tiến về thị xã Thủ Dầu Một theo quốc lộ 13; mũi thứ ba từ Gò Vấp lên cầu Bến Phân, qua Lái Thiêu, hợp với cánh quân thứ hai tiến chiếm Thủ Dầu Một. Quân ta kiên cường chiến đấu chặn đứng đường tiến quân của giặc ở mũi thứ hai và mũi thứ ba. Nhưng do lực lượng ta ít, không bố trí lực lượng án ngữ trên đường Tân Ba – Tân Khánh, đến 9 giờ sáng ngày 25/10, toàn bộ các cơ quan hành chánh ở nội ô thị xã Thủ Dầu Một đã bị thực dân Pháp chiếm đóng. UBHC và các cơ quan tỉnh rút về vùng nông thôn xung quanh thị xã để bảo toàn lực lượng và tổ chức chiến đấu. Lực lượng vũ trang được phân công bám vùng ven thị xã để diệt địch, trừ gian.

Những ngày sau đó, thực dân Pháp ra sức đóng thêm đồn bót trong nội ô thị xã và một số điểm ở ngoại ô. Tuy vậy, ngay trong nội ô, nhiều nơi chúng cũng chỉ kiểm soát được ban ngày, còn ban đêm vẫn do chính quyền cách mạng xã và lực lượng vũ trang ta kiểm soát. Ở Phú Cường, nhân dân còn họp chợ tại khu vực Cây Sò Đo (ấp Lò Chén), có lực lượng thanh niên vũ trang canh gác, bảo vệ bên ngoài cho đồng bào mua bán. Để xây dựng lại bộ máy cai trị, quân Pháp ra sức chiêu dụ các viên chức cũ quay về làm việc cho chúng, nhưng phần lớn đồng bào, nhất là nam nữ thanh niên đã tản cư ra vùng nông thôn, thực hiện bất hợp tác với giặc theo truyền đơn kêu gọi của Ủy ban nhân dân tỉnh trước khi Pháp chiếm đóng thị xã, chỉ có một số tên lưu manh bị chúng dùng tiền mua chuộc, trở thành chỉ điểm cho giặc trong những cuộc hành quân càn quét, bắt bớ đồng bào và lực lượng cách mạng. Trong  tháng đầu tiên chiếm đóng tỉnh lỵ, giặc Pháp đi đến đâu cũng bị nhân dân ta cô lập, đường phố đầy chướng ngại vật (tủ, giường, bàn, ghế được nhân dân quăng ra đường, cây cối được ngã xuống… để cản trở lưu thông  của địch), chợ Thủ Dầu Một không họp, trường học, phố xá đóng cửa, đêm thì bị lực lượng vũ trang ta đột nhập thị xã, bắn phá đồn bót, ngày thì bị các đội tự vệ địa phương phục kích, bắn tỉa. Trong thời gian này, anh em thanh niên trong  đội trinh thám (do Đinh Quang Kỳ chỉ huy) và đội cảm tử (do Nguyễn Văn Lộng chỉ huy) là lực lượng hoạt động mạnh nhất, đã diệt được nhiều tên chỉ điểm, tay sai cho giặc Pháp.

Những ngày này, do tình hình chiến sự phức tạp, các đoàn thanh niên tiền phong không hoạt động được như cũ. Đoàn viên, một số ít đi tản cư, một số nằm êm chờ thời, còn phần lớn các đoàn viên tích cực tiếp tục ủng hộ Việt Minh, bám cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang để được bố trí công tác mới. Các anh chị hăng hái tham gia kháng chiến với các nhiệm vụ mới được cách mạng phân công : bảo vệ, giao liên, du kích, cứu thương, trinh sát, tham gia vệ quốc đoàn hoặc đội văn nghệ…

Đến cuối tháng 12/ 1945, thực dân Pháp đã chiếm đóng tất cả các huyện lỵ và các đồn điền cao su trong tỉnh. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Thủ Dầu Một bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Để dập tắt cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, thực dân Pháp dựa vào một số tên chỉ điểm, tiến hành bắt bớ, càn quét, đốt phá, sát hại đồng bào ta hết sức man rợ với chính sách “ giết sạch, đốt sạch, phá sạch”, nhất là đối với vùng nông thôn, những nơi chúng tình nghi có căn cứ cách mạng. Những tháng tiếp theo, chúng đóng thêm nhiều đồn bót dọc các trục giao thông quan trọng và lấn sâu vào nhiều vùng nông thôn, lập lại bộ máy tề xã, dụ dỗ thanh niên đi lính, tuyên truyền chia rẽ tôn giáo, phát triển lực lượng chỉ điểm và gián điệp, bao vây ta về kinh tế…

Hoạt động của địch đã gây nhiều khó khăn cho ta trong những ngày cuối năm 1945 và trong suốt năm 1946. Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân Thủ Dầu Một đã kiên trì vượt qua mọi thử thách, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân, từng bước xây dựng lực lượng, đưa cuộc kháng chiến đi lên.

Ngày 25 /12/ 1945, Thủ Dầu Một tiến hành cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa[1]. Đây là một sự kiện chính trị có ý nghĩa to lớn. Lần đầu tiên, nhân dân ta được cầm lá phiếu bầu ra những người đại diện cho dân nắm giữ vận mệnh của cả dân tộc. Nam nữ thanh niên và nhân dân Thủ Dầu Một tham gia bầu cử với tỉ lệ rất cao, kể cả ở một số ấp trong thị xã, nơi địch đã chiếm đóng như ấp Bà Lụa, Phú Văn      (xã Phú Cường), ấp Chánh Thành (xã Chánh Hiệp) … ta vẫn tổ chức  được nhiều điểm bỏ phiếu. Thắng lợi này là một đòn đánh vào âm mưu chia rẽ và lật đổ của kẻ thù, đồng thời làm cho uy tín của chính quyền cách mạng ngày càng được nâng cao.

Để có sự chỉ đạo thống nhất của TW đối với cuộc kháng chiến ở  các tỉnh Nam bộ, ngày 25/10/1945, TW tổ chức một cuộc hội nghị quan trọng tại Cái Bè (Mỹ Tho). Hội nghị bàn bạc và đề ra phương hướng về chấn chỉnh tổ chức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, trước hết là đối với các lực lượng vũ trang, phát động quần chúng đẩy mạnh cuộc kháng chiến, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, giải quyết nhanh của địch… Tiếp đó, ngày 20/11/1945, Hội nghị quân sự của Xứ ủy Nam bộ được tổ chức tại An Phú xã (Hóc Môn – Gia Định) do Trung tướng Nguyễn Bình, cán bộ quân sự được TW phái vào chi viện cho Nam bộ, chủ trì. Hội nghị nhấn mạnh chủ trương kháng chiến trường kỳ và hai nhiệm vụ lớn là : thực hiện đoàn kết toàn dân, chống lại âm mưu chia rẽ dân tộc, chia rẽ tôn giáo của địch và thống nhất lực lượng vũ trang. Về mặt quân sự, Hội nghị quyết định tổ chức các lực lượng vũ trang Nam bộ thành 25 chi đội độc lập.

Sau Hội nghị  An Phú xã , trên cơ sở lực lượng vũ trang sẵn có[1] tỉnh Thủ Dầu Một thành lập 1 chi đội, lấy tên là chi đội 1, gồm 3 đại đội được phân công hoạt động trên các địa bàn Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát và Hớn Quản. Ban chỉ huy chi đội 1 lần lượt thành lập các phòng, ban trực thuộc phụ trách các mặt chính trị, quân lương, quân y, quân giới… Nhiều viên chức trí thức, mà phần lớn là thanh niên, học sinh yêu nước đã gia nhập các ban của chi đội.

Thời kỳ này, hoàn cảnh sống và chiến đấu của bộ đội cũng như của tất cả các cán bộ dân, chính, đảng đều rất khó khăn. Lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh hết sức thiếu thốn. Công nhân cao su dầu Tiếng, Hớn Quản đã nhín phần ăn để dành lương thực cho bộ đội, giả bệnh để xin thuốc gởi cho cán bộ, chiến sĩ. Cán bộ, bộ đội đã phải phân công nhau vào rừng chặt mây, tre làm gióng, rổ rá… gởi cơ sở đem bán đổi lấy lương thực và đồ dùng. Trong hoàn cảnh ấy, các đơn vị vũ trang ta đã khắc phục khó khăn, tìm địch mà đánh để vừa tiêu hao, tiêu diệt địch, vừa lấy vũ khí và phương tiện chiến tranh, quân trang, quân dụng  của chúng trang bị cho ta. Từ cuối năm 1945 và trong năm 1946, các lực lượng vũ trang ở Bến Cát, Tân Uyên… đã tổ chức các trận phục kích địch di chuyển trên đường 13, trên đường xe lửa, phối hợp với lực lượng của Biên Hòa và Khu 7 chống địch càn quét chiến khu Đ, diệt nhiều địch, thu về một số vũ khí và quân trang, quân dụng, bảo vệ căn cứ an toàn. Càng đánh, bộ đội ta càng được rèn luyện và trưởng thành bằng kinh nghiệm chiến đấu, càng được trang bị tốt hơn bằng chiến lợi phẩm, càng được nhân dân yêu mến và tin tưởng, mối quan hệ quân – dân càng được thắt chặt. Ngoài ra, ta còn lơiï dụng chủ trương lập lại bộ máy tề và xây dựng ngụy binh của địch, đưa lực lượng cốt cán vào bộ máy tề; đưa nhiều thanh niên tốt, đã được giáo dục kỹ vào các đơn vị partisant của địch. Nhờ vậy, ở nhiều nơi như Bình Hòa, An Phú và nhiều xã khác, cán bộ ta  được bảo vệ an toàn, hạn chế tổn thất. Về sau, ta dùng quân đội tấn công trụ sở ngụy quyền xã để đưa các đơn vị partisant với đầy đủ súng ống về chiến khu. Lực lượng này được bổ sung vào các đơn vị bộ đội ta hoặc tham gia kháng chiến mà địch vẫn không có lý do gì để làm khó thân nhân của họ còn sống trong vùng địch tạm chiếm. Bên cạnh đó, thanh niên tiếp tục tòng quân tham gia kháng chiến. Đến cuối tháng 12/1946, quân số toàn tỉnh có 1200 cán bộ, chiến sĩ với 420 súng các loại. Ngoài ra, Quân khu 7 đã tổ chức được 7 khóa huấn luyện quân sự ngắn ngày, đào tạo chiến sĩ du kích cho các địa phương, mỗi khóa có  khoảng 60 học viên là những thanh niên ưu tú được tuyển chọn từ các tỉnh thuộc Quân khu 7. Hàng trăm học viên từ các khóa huấn luyện này được đưa về các địa phương của Thủ Dầu Một, là những hạt nhân tích cực làm nòng cốt xây dựng và phát triển lực lượng dân quân, du kích của tỉnh sau này.

Bên cạnh việc củng cố lực lượng vũ trang và hoạt động quân sự, Đảng bộ Thủ Dầu Một tích cực xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Từ tháng 11/1945, theo chủ trương chung nhằm tránh mũi nhọn tấn công của kẻ thù bên ngoài và mở rộng tối đa khối đoàn kết toàn dân, Đảng bộ Thủ Dầu Một thực hiện chủ trương “giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật để lãnh đạo cuộc kháng chiến thông qua Mặt trận Việt Minh và những người Cộng sản. Sinh hoạt Đảng và công tác phát triển đảng viên mới được tiến hành bí mật, trọng chất lượng. Nhằm chuẩn bị thiết thực cho việc tăng cường đội ngũ đảng viên, từ đầu năm 1946, Xứ ủy đã tổ chức tại Thủ Dầu Một nhiều lớp huấn luyện về đường lối kháng chiến và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ trẻ đang công tác ở tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị bộ đội.

Hệ thống tổ chức của Mặt trận Việt Minh được củng cố lại từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã, trở thành chỗ dựa vững chắc của chính quyền và quân đội ở từng địa phương. Đảng bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh và Mặt trận Việt Minh đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, xây dựng khối đoàn kết toàn dân để tập hợp lực lượng cho kháng chiến. Các tổ chức thành viên của Mặt trận Việt Minh không ngừng được củng cố và phát triển.

Trải qua một năm đầy khó khăn, thử thách, Đảng bộ và quân dân Thủ Dầu Một đã kiên trì vượt qua những trở ngại to lớn, bảo vệ vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân, tiếp tục đứng vững và từng bước lớn mạnh về mọi mặt để cùng cả nước bước vào cuộc “toàn quốc kháng chiến”, duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến tại địa phương đến thắng lợi cuối cùng.

ĐOÀN THANH NIÊN CỨU QUỐC VÀ THANH, THIẾU NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1947 – 1952)
Sự hình thành và phát triển của hệ thống tổ chức Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một
Nhằm phát huy tối đa sức mạnh toàn dân vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển các tổ chức đoàn thể cứu quốc, trong đó, tập hợp thanh niên là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu.

Từ năm 1946 , Tỉnh ủy chỉ định đồng chí  Dương Danh Thắng, cán bộ trong Tỉnh bộ Việt Minh, phụ trách công tác thanh vận, giúp Tỉnh ủy lãnh đạo và phát triển tổ chức thanh, thiếu niên trong toàn tỉnh.

Đầu năm 1947, Tỉnh ủy chỉ đạo tiến hành Hội nghị bầu Ban chấp hành lâm thời Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh. Ban chấp hành lâm thời mới được bầu gồm các anh Dương Danh Thắng (Cao Lâm Thanh), Tỉnh Đoàn trưởng; Nguyễn Văn Tri (Nguyễn Bá Niên), Tỉnh Đoàn phó; các đ/c  Năm Thích (Năm Cứu), Quốc và Ngô Vũ Hòa (Tỉnh). Đây là Ban chấp hành Tỉnh Đoàn Thanh niên đầu tiên của Thủ Dầu Một, với lực lượng thành viên gồm một số cán bộ, đảng viên và thanh niên tích cực, có cảm tình với Đảng, làm nhiệm vụ tuyên truyền, phát động, tổ chức và lãnh đạo thanh niên. Để xây dựng và phát triển mạng lưới tổ chức Đoàn ở cơ sở, Ban chấp hành Tỉnh Đoàn TNCQ quyết định chọn xã Tân Hiệp, một xã nằm trên vùng căn cứ giải phóng của ta làm điểm  xây dựng chi đoàn đầu tiên, từ đó, rút kinh nghiệm xây dựng và phát triển tổ chức đoàn rộng khắp toàn tỉnh. Chi đoàn đầu tiên sẽ được xây dựng trên cơ sở lựa chọn những thanh niên gương mẫu, tích cực nhất trong phong trào 3 tốt : xóa mù chữ tốt, sản xuất tự túc tốt, xây dựng xã chiến đấu tốt. Đồng chí Nguyễn Bá Niên và đồng chí Hồng được Ban chấp hành Tỉnh Đoàn phân công trực tiếp chỉ đạo phát động phong trào và phát triển đoàn viên.

Qua tuyên truyền, phát động, phong trào “3 tốt” được thanh, thiếu niên xã Tân Hiệp hưởng ứng mạnh mẽ. Sôi nổi nhất là phong trào bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ. Các nam, nữ thanh niên biết chữ hăng hái tình nguyện dạy cho những người chưa biết chữ. Lớp học là nhà dân. Có nơi cũng đầy đủ bảng đen, phấn viết, nhưng nhiều nơi thầy trò phải dùng vách nhà làm bảng, khoai mì phơi khô làm phấn, ghế ngồi do học viên tự mang đến… Vậy mà đêm đêm, tiếng đánh vần vẫn vang đều khắp xóm. Thanh, thiếu niên còn có sáng kiến lập ra các trạm kiểm tra trên các đoạn đường đông người qua lại, ai đọc được các khẩu hiệu thì cho đi qua, ai không đọc được thì trở lại. Biện pháp tuy có phần cứng nhắc nhưng lại được quần chúng đồng tình, vì nó thể hiện lòng khát khao vươn tới văn minh, tiến bộ của cả một dân tộc đã hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân kìm hãm trong vòng ngu muội.  Với tinh thần “Muốn làm chủ đất nước, phải biết chữ” như khẩu hiệu của Tỉnh Đoàn đưa ra thời đó, chỉ trong một thời gian ngắn, hầu hết thanh, thiếu niên và cả người lớn tuổi trong toàn xã đã biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.

Bên cạnh đó, thanh, thiếu niên còn tích cực tham gia sản xuất tự túc. Ban đêm học chữ, ban ngày sản xuất. Trong từng ấp và giữa các ấp trong xã, dấy lên một phong trào thi đua tăng gia sản xuất.Thanh niên phấn đấu mỗi người trồng từ 100 đến 300m khoai lang; 100 đến 300 gốc khoai mì… Các em thiếu nhi cũng hăng hái tham gia trồng chuối, trồng rau xanh, nuôi gà… góp phần nuôi quân, giải quyết khó khăn về lương thực, thực phẩm tại chỗ của địa phương.

Thanh niên cũng là lực lượng tích cực đi đầu trong công tác xây dựng xã, ấp chiến đấu. Các ấp thi đua đào công sự chống pháo dọc các đường xe, đường bộ; làm rào chiến đấu; đào hầm, hố chông… Thanh niên nam, nữ xung phong tòng quân và gia nhập du kích ấp, xã.

Qua phong trào, những thanh niên hăng hái, tích cực, đạt thành tích cao đều được khen thưởng, biểu dương và lựa chọn để kết nạp vào Đoàn Thanh niên cứu quốc. Aáp nào có 3 đoàn viên trở lên thì lập Phân Đoàn. Khi các ấp trong xã đều có Phân Đoàn thì tiến hành Đại hội bầu Ban chấp hành Chi Đoàn Thanh niên cứu quốc xã. Lúc bấy giờ, đồng chí Tám Quân được bầu làm Chi Đoàn trưởng xã Tân Hiệp.  Đây là Chi Đoàn Thanh niên cứu quốc đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một. Từ kinh nghiệm ở xã Tân Hiệp, tổ chức cơ sở Đoàn lần lượt được xây dựng trên toàn tỉnh. Ở những nơi trước đây có lực lượng Thanh niên tiền phong, hầu hết các đoàn viên Thanh niên tiền phong tích cực, hăng hái tham gia kháng chiến đều được kết nạp vào Đoàn TNCQ. Ở mỗi huyện, nếu có BCH Chi đoàn ở 5,7 xã thì tổ chức bầu BCH huyện. Cứ như vậy, đến giữa năm 1947, Thủ Dầu Một đã xây dựng được hệ thống tổ chức Đoàn ở 3 cấp : xã, huyện và tỉnh. Các em thiếu nhi thì được kết nạp vào Đội thiếu nhi cứu quốc, có anh phụ trách ở ấp và Ban phụ trách thiếu nhi  từng xã.

Thanh, thiếu niên thi đua góp sức vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống Pháp (1947- 1952)
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động tích cực của Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một, đồng thời, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tổ chức Đoàn cơ sở, thanh, thiếu niên Thủ Dầu Một được tập hợp, rèn luyện và phát huy tối đa năng lực của tuổi trẻ trong các phong trào cách mạng rộng lớn của cả nước.

Tháng 4/ 1947, TW Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ TW bàn về công tác vận động thanh niên trong kháng chiến. Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ trước mắt của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân; giúp đỡ việc tản cư; tham gia dạy bình dân học vụ và tiểu học; đoàn kết vận động thanh niên đứng lên cứu nước. Cuối năm 1947, Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một  phát động phong trào thanh niên đi đầu “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” với khẩu hiệu “Thanh niên vui – trẻ – khỏe – hùng”. Đại hội lần thứ I Đoàn TNCQ Nam bộ cũng được triệu tập từ ngày 5 đến ngày 8/12/1947 tại chiến khu Đồng Tháp Mười nhằm nêu lên phương hướng hoạt động của Đoàn trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến. Đại hội Xứ Đoàn đã phát động phong trào thanh niên thi đua lập công với các nội dung :

– Quân sự hóa thanh niên (tòng quân, luyện tập quân sự, công tác dân quân)

– Xây dựng đời sống mới, xây dựng nông thôn mới.

– Tăng gia sản xuất lương thực.

– Tham gia công tác bình dân học vụ và công tác thiếu nhi.

Các phong trào do Tỉnh Đoàn và Xứ Đoàn phát động nhanh chóng được thanh thiếu niên vùng căn cứ kháng chiến, vùng tự do và cả vùng địch tạm chiếm hưởng ứng sôi nổi, góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc.

Thanh, thiếu niên là lực lượng hăng hái, tích cực nhất trong phong trào bình dân học vụ nhằm xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân. Công tác xóa nạn mù chữ  bị gián đoạn từ khi thực dân Pháp tái chiếm thị xã Thủ Dầu Một, đến giữa năm 1947 trở đi, phong trào được khôi phục và phát triển mạnh mẽ ở vùng căn cứ kháng chiến và vùng du kích. Trong phong trào bình dân học vụ, thanh niên là lực lượng chủ yếu làm nhiệm vụ dạy học và tuyên truyền, cổ động toàn dân tham gia. Thành tích xóa nạn mù chữ của Thủ Dầu Một được xếp vào loại khá trong khu vực Miền Đông Nam bộ. Riêng huyện Bến Cát, được Xứ Đoàn ủyThanh niên cứu quốc Nam bộ tặng cờ “Tiền phong diệt giặc dốt”[1].

Nhằm nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong thanh, thiếu niên và nhân dân, đồng thời tuyên truyền, động viên toàn dân tham gia kháng chiến, Tỉnh Đoàn ra báo “Bò cạp lửa”, thành lập Đoàn văn nghệ nghiệp dư, biểu diễn lưu động ở các xã vùng kháng chiến với các tiết mục ca hát, hò vè, diễn kịch…  được đông đảo bà con khen ngợi, cổ vũ. Ty thông tin tuyên truyền cũng lập các đoàn biểu diễn lưu động nhằm phục vụ cho nhân dân và cán bộ, chiến sĩ vùng căn cứ, vùng du kích. Huyện Tân Uyên còn có đoàn ca múa thiếu nhi Sơn Ca, thu hút đông đảo khán giả thiếu nhi và cả những người lớn tuổi.

Trong phong trào thi đua sản xuất để tự túc lương thực, ngoài việc động viên thanh, thiếu niên tăng gia sản xuất, Tỉnh Đoàn còn vận động thanh niên giúp đỡ bà con nông dân thu hoạch mùa màng trong những ngày bom pháo ác liệt. Ở khu vực rừng Tân Long, nơi Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc đóng căn cứ, có năm lúa mùa đã chín, nhưng bà con nông dân lại thiếu đói vì không dám ra đồng, sợ máy bay địch và bọn lính đồn bắn ra. Tỉnh Đoàn đã lập một đội Thanh niên xung phong giúp dân thu hoạch lúa. Đêm đến, các thanh niên ra đồng, dùng tay tuốt lúa cho vào bao tải đem về cho dân. Cứ thế, suốt một tuần lễ, đội đã giúp dân đem về hàng trăm giạ lúa.

Vùng đồng bào dân tộc ở Hớn Quản (nay thuộc Bình Long)  thường bị thiếu đói. Năm 1949, thời tiết hạn hán,  vấn đề lương thực của đồng bào và chiến sĩ ở Hớn Quản càng khó khăn hơn. Trước tình hình đó, Tỉnh hội Phụ nữ và Tỉnh Đoàn TNCQ đã nhận nuôi dạy 40 trẻ mồ côi người dân tộc. Một đại đội Thanh niên xung phong được giao nhiệm vụ mang giống khoai mì  lên trồng giúp đồng bào, đồng thời cùng với Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh đón các em về nuôi và tổ chức cho các em học văn hóa cho đến ngày tập kết ra Bắc. Năm 1952, Miền Đông lại gặp cơn bão lụt lớn chưa từng có. Nước dâng cao, nhận chìm hết nhà cửa, ruộng vườn, vật nuôi, giống lúa và hoa màu… Những ngày sau đó là nạn đói trầm trọng. Miền Tây Nam bộ nhanh chóng quyên góp hỗ trợ đồng bào Miền Đông. Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một tổ chức ngay Đội Thanh niên xung phong gồm hàng ngàn đội viên, làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực từ Miền Tây về Miền Đông. Các anh chị thanh niên xung phong không nề hy sinh, gian khổ, dũng cảm vượt qua nhiều đồn bót địch để chuyển lương thực về cứu đói cho đồng bào và cán bộ, chiến sĩ. Ngoài ra, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, tất cả các cơ quan dân, chính, đảng đều khẩn trương tổ chức sản xuất hoa màu ngắn ngày để cứu đói. Các cơ quan, đơn vị công tác chuyên môn, văn phòng được sắp xếp lại, mỗi người làm kiêm hai ba việc để điều các thanh niên trẻ, khỏe vào các tổ  sản xuất cứu đói.

Nhờ có những biện pháp tích cực của Tỉnh ủy, Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc và ý chí, sức mạnh của tuổi trẻ, thanh thiếu niên Thủ Dầu Một đã góp phần cùng nhân dân trong tỉnh vượt qua những khó khăn gay g?t về lương thực, thực phẩm của một vùng căn cứ rừng núi Miền Đông, đặc biệt là nạn đói nghiêm trọng sau mùa bão lũ 1952, để cùng cả nước bước vào chiến dịch Đông – Xuân 1953 – 1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Đối với chủ trương xây dựng đời sống mới, xây dựng nông thôn mới, Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một được phân công xây dựng mô hình “khu đời sống mới” đầu tiên làm thí điểm cho các tỉnh.

“Khu đời sống mới” được xây dựng ở ấp 3 xã Tân Hiệp, do Chi đoàn TNCQ xã Tân Hiệp chịu trách nhiệm thực hiện trên cơ sở huy động nhân lực và vật liệu xây dựng từ đoàn viên và thanh niên trong xã, có sự hỗ trợ của Đảng, chính quyền và các đoàn thể cứu quốc tại chỗ. Về phía Tỉnh Đoàn, đồng chí Nguyễn Bá Niên được phân công trực tiếp chỉ đạo thực hiện công trình.

Mô hình “khu đời sống mới” được xây dựng trên một diện tích rộng hơn 4 ha dọc theo con đường  từ ấp 2 đến ấp 3 xã Tân Hiệp. Mô hình phản ánh một xã hội tốt đẹp với nếp sống mới, tiến bộ, cùng những đáp ứng phúc lợi của chế độ mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Ở đây có sân thể thao (tổ chức thi đấu bóng đá, bóng chuyền hàng tuần giữa thanh niên các xã lân cận và thanh niên trong các cơ quan, đơn vị đóng căn cứ trên địa bàn), có sân khấu dã ngoại, Phòng thông tin văn hóa, Trạm y tế (với 1 y tá và 2 cứu thương khám, chữa bệnh và bán thuốc cho nhân dân), có các lớp bình dân học vụ có đủ giáo viên đứng lớp, có chợ, có quán cà phê, hủ tíu hợp vệ sinh và tiện lợi cho sinh hoạt và công tác của nhân dân, cán bộ. Nét đặc biệt của khu đời sống mới là nhà ở của dân là nhà kiểu mẫu[1]. Nhân dân được hướng dẫn ăn ở hợp vệ sinh : ăn sạch, uống chín, dùng đũa hai đầu… Chung quanh khu đời sống mới có hệ thống hầm, hố chông và giao thông chiến. Cả ấp được xây dựng thành ấp chiến đấu. Mô hình khu đời sống mới của thanh niên Tân Hiệp bị địch đánh phá dữ dội, nhưng vẫn tồn tại trên 2 năm, được nhiều tỉnh bạn đến tham quan, rút kinh nghiệm. Đồng thời, mô hình ấp chiến đấu cùng với Xã Đoàn TNCQ xã Tân Hiệp đã chiến đấu tích cực, góp phần bảo vệ khu căn cứ Tân Long trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Riêng các em đội viên Thiếu nhi cứu quốc, bằng sáng kiến và cách thức riêng, cũng cố gắng đóng góp công sức của mình vào cuộc kháng chiến của cả nước. Ở 3 xã An Điền, An Tây, Phú An (Bến Cát), nơi ta có một số cơ quan, đơn vị đứng chân hoạt động, địch thường tuần tra và hành quân càn quét bằng tàu chiến trên sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua 3 xã. Các em thiếu nhi hằng ngày đi chăn trâu, cắt cỏ, cứ thấy địch là dùng những chiếc tù và làm bằng lá khóm để báo động cho bà con thu xếp tránh giặc. Khi giặc rút đi, các em cũng thổi tù và báo tin cho bà con trở về sinh hoạt bình thường, nhưng tiếng tù và kéo dài, thong thả chớ không thúc giục, liên hồi như khi báo động. Bà con nông dân ai cũng khen tiếng tù và của các em đã góp phần giúp ích cho kháng chiến. Còn Uùt Tèo, đội trưởng Đội thiếu nhi cứu quốc xã Phú An, vừa học giỏi, vừa đàn, hát, bơi lội, chèo ghe đều giỏi cả. Một lần, 3 đội viên du kích xã đang đi làm nhiệm vụ nhưng bị lộ và bị địch truy đuổi ráo riết, Út Tèo đã dũng cảm chèo ghe đưa 3 anh vượt sông Sài Gòn, cặp bờ bên kia an toàn, thoát khỏi tay giặc. Có nơi (như xã An Long, huyện Hớn Quản), các em thiếu nhi còn trồng  khoai lang, khoai mì để dành riêng khao quân cho các anh bộ đội sau những trận chống địch càn quét xóm làng, làm cho các anh hết sức ngỡ ngàng và cảm động. Thiếu nhi Bến Cát, Lái Thiêu…  cùng với các chị nữ thanh niên góp phần động viên tinh thần chiến sĩ Vệ quốc đoàn ngày đêm chiến đấu trên khắp các nẻo đường kháng chiến ở Thủ Dầu Một bằng những chiếc khăn tay thêu gởi ra tiến tuyến, hoặc lúc đưa tiễn các anh lên đường tòng quân… Đó là những tấm tình sâu nặng của hậu phương, góp phần hun đúc dũng khí diệt thù, giải phóng đất nước của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn trên khắp vùng đất Thủ thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trong kháng chiến, để thắng giặc, mặt trận quân sự vẫn là mặt trận quan trọng hàng đầu. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động thanh niên tòng quân và tham gia dân quân, du kích được Tỉnh Đoàn và các cấp bộ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và đạt hiệu quả lớn. Thanh niên luôn luôn đi đầu và là lực lượng chủ yếu trong phong trào tòng quân giết giặc. Nhờ đó, các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện không ngừng được bổ sung, tăng cường quân số, đáp ứng yêu cầu kháng chiến.  Bên cạnh đó, phong trào dân quân của tỉnh phát triển mạnh mẽ và trở thành  phong trào quần chúng sôi nổi ở tất cả các ngành, các cấp. Lực lượng dân quân cơ sở gồm có dân quân tự vệ và dân quân du kích. Các đoàn thể quần chúng cũng quan tâm xây dựng phong trào dân quân trong đoàn thể của mình với khẩu hiệu : “Mỗi đoàn viên, mỗi hội viên là một dân quân”. Đoàn Thanh niên cứu quốc gắn bó chặt chẽ với tổ chức dân quân của chính quyền. Ở cấp tỉnh, ủy viên Tỉnh Đoàn phụ trách dân quân cũng đồng thời là ủy viên của Tỉnh đội bộ dân quân. Ở cấp huyện và cấp xã, Huyện Đoàn phó, Xã Đoàn phó được phân công phụ trách dân quân. Lực lượng dân quân du kích được tổ chức học tập quân sự, được bộ đội tỉnh dìu dắt về kỹ thuật tác chiến, về công tác quần chúng, giúp trang bị vũ khí… Đến cuối năm 1947, ta có lực lượng dân quân du kích ở hầu khắp các xã, nhiều đội du kích có khả năng hoạt động chiến đấu với hiệu quả cao, nổi bật  nhất là các đội du kích Hòa Lân, Chánh Phú Hòa, Thới Hòa, Tân Phước Khánh, Chánh Hiệp… Đặc biệt, có đội nữ du kích Thanh Tuyền, huyện Bến Cát được thành lập từ tháng 12/1947, gồm 16 đội viên nữ tuổi từ 16 đến 22, do chị Ngô Nguyệt Thu làm Tiểu đội trưởng, chị Liễu Thị Kim Tinh làm Tiểu đội phó… Ngoài nhiệm vụ canh gác, bảo vệ các cửa ngõ vào căn cứ Đường Long – Ta Leng của ta, phối hợp với du kích các xã khác bảo vệ cho lực lượng dân quân làm công tác phá hoại giao thông, phá hoại kinh tế địch, đội nữ du kích Thanh Tuyền còn tổ chức được nhiều trận đánh tiêu hao, tiêu diệt địch, phối hợp với các trung đoàn chủ lực 301, 306, 312 trong các trận đánh bót Nhà Mát, An Tây, An Điền, Phú Hưng, Bến Súc, Rạch Kiến… Đây là đội nữ du kích đầu tiên của tỉnh Thủ Dầu Một, cũng là đội nữ du kích đầu tiên của Nam bộ, là niềm tự hào lớn của Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc Thủ Dầu Một. Đội đã vinh dự nhận được bằng khen của Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (do Trung tướng Nguyễn Bình ký), của UBHCKC Nam bộ, UBHCKC Thủ Dầu Một, Tỉnh đội Thủ Dầu Một… [1] Từ đội nữ du kích Thanh Tuyền, nhiều xã khác cũng lần lượt thành lập các đội nữ du kích (như Chánh Phú Hòa, Long Nguyên, Định Hòa…).  Lực lượng dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp tiến dần đến thắng lợi.

Thời kỳ này, lực lượng Thanh niên xung phong tiếp tục được duy trì và củng cố. Ở Bến Cát, Đội Thanh niên xung phong huyện được thành lập từ năm 1949, do anh Nguyễn Văn Đời là Phó đoàn Thanh niên cứu quốc huyện cùng hai cán bộ khác là chị Trần Thị Phàn (tức đc Trần Thị Hữu) và anh Phan Văn Thuấn phụ trách. Đội Thanh niên xung phong Bến Cát có vai trò quan trọng trong việc tổ chức  các đội Thanh niên xung phong các xã, phối hợp với Xã đội dân quân tập luyện quân sự cho các đội Thanh niên xung phong xã, tổ chức  phục vụ hỏa tuyến, đặc biệt là trong các trận đánh cầu Cồm Nộm, đánh bót Thanh Tuyền-Bến Súc hoặc trong chiến dịch Lê Hồng Phong… [1]. Hoạt động mạnh mẽ của Thanh niên xung phong, dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang tiêu hao, tiêu diệt địch, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp tiến dần đến thắng lợi.

Với lực lượng vũ trang phát triển mạnh về số lượng và không ngừng được học tập, rèn luyện nâng cao năng lực tác chiến và những phẩm chất cao quý của “bộ đội Cụ Hồ”, trong năm 1947, ta tổ chức nhiều trận chống càn, đánh đồn, đánh giao thông ở nhiều nơi thuộc các huyện Lái Thiêu, Bến Cát, Châu Thành, Tân Uyên, Hớn Quản… diệt gọn 2 đại đội, 9 trung đội, 6 tiểu đội và gần 500 tên khác, thu gần 400 súng các loại, thu 8 toa xe lửa chở đầy hàng hóa của địch, đốt hàng chục xe quân sự… Một trong những trận đánh nổi bật  là trận đánh chiến khu Bình Quới Tây của địch, dùng nội ứng tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy và tham mưu địch, bức hàng binh lính và cướp toàn  bộ súng ống, lực lượng ta rút lui an toàn. Với thành tích chiến đấu của lực lượng vũ trang ta, trong năm 1947, địch phải rút bỏ nhiều đồn bót đóng sâu trong vùng nông thôn, vùng giải phóng của ta được mở rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của  những năm tiếp theo. Chiến khu Thuận An Hòa, căn cứ của  các cơ quan cấp tỉnh và huyện Lái Thiêu được củng cố và mở rộng lên phía bắc (chiến khu Tân Long) tạo thế liên hoàn với chiến khu Vĩnh Lợi, căn cứ của huyện Châu Thành. Ở Bến Cát, ta có vùng căn cứ tây nam  với 3 xã An Điền, An Tây, Phú An nối liền với  căn cứ bắc Bến Cát gồm các xã Long Nguyên, Thanh An, Thanh Tuyền là nơi đứng chân thuận lợi của huyện Bến Cát, của đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn và tỉnh Gia Định trong nhiều năm liền.

Bị thất bại nặng nề trong trận Việt Bắc (1947), từ năm 1948, thực dân Pháp chuyển sang thực hiện chiến lược đánh lâu dài với chính sách “dùng người Việt giết người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.  Chúng ra sức củng cố vùng đã chiếm đóng, củng cố ngụy quyền, phát triển ngụy quân, tranh thủ viện trợ Mỹ, thực hiện những cuộc hành quân vừa và nhỏ nhằm phá hoại cơ sở kinh tế, chính trị của ta. Nắm được ý đồ của địch, Xứ ủy Nam bộ chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích trên toàn Nam bộ, tích cực bảo vệ lực lượng dự trữ và hậu phương ta, đánh vào lực lượng dự trữ và hậu phương của địch. Từ tháng 3/ 1948, ta xây dựng chi đội 1 thành trung đoàn 301 với đầy đủ 3 tiểu đoàn và lực lượng trợ chiến. Mạng lưới dân quân phát triển rộng khắp, phối hợp nhịp nhàng với bộ đội chủ lực trong tác chiến. Trong những năm 1948, 1949  ta tiếp tục giành nhiều thắng lợi quan trọng trong các trận chống càn lớn, bảo vệ vững chắc chiến khu Thuận An Hòa, chiến khu Vĩnh Lợi, phối hợp với các lực lượng của khu 7,  Biên Hòa bẻ gãy các cuộc càn lớn của địch vào chiến khu Đ…  Lực lượng dân quân, du kích các xã chặn đánh nhiều cuộc hành quân nhỏ hoặc phục kích diệt  các đơn vị  biệt kích Pháp, đánh đồn, đánh giao thông… tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đêm 19/3/1948, một tổ chiến đấu của huyện đội Tân Uyên giành thắng lợi trong trận  đánh tháp canh cầu Bà Kiên bằng cách đưa lựu đạn vào tận tháp canh diệt địch. Đây là trận đánh đầu tiên theo lối đánh đặc công, mở đầu cho những thắng lợi liên tiếp tiêu diệt hàng loạt tháp canh trong chiến thuật tháp canh hay còn gọi là chiến thuật mạng nhện của De Latour. Từ trận đánh này, về sau, quân đội ta lấy ngày 19/3 làm ngày truyền thống của binh chủng đặc công.

Năm 1950, mặt trận đấu tranh quân sự của nhân dân Bình Dương tiếp tục giành nhiều  thắng lợi, nổi bật nhất là thành tích dùng chiến thuật đặc công và vũ khí FT1, FT2 tiêu diệt hàng loạt hệ thống tháp canh De Latour, bẻ gãy âm mưu chia cắt chiến trường của địch. Giữa tháng 7/1950, phối hợp với chiến dịch biên giới trên chiến trường chung, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 quyết định mở chiến dịch Bến Cát với mục tiêu tiêu diệt hàng loạt tháp canh và đồn bót nằm trong phân chi khu Bến Cát nhằm cắt đứt giao thông trên đường số 7 và đường 14, mở rộng căn cứ địa cách mạng, tiêu hao, tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta, đồng thời, gây niềm tin và khí thế mới để động viên nhân dân. Bằng sự nỗ lực lớn của quân dân toàn tỉnh, chiến dịch Bến Cát kết thúc thắng lợi vào ngày 15/11/1950, sau 38 ngày đêm chiến đấu. Đây là chiến dịch lớn đầu tiên được tổ chức ở chiến trường Miền Đông, đánh dấu bước trưởng thành lớn của lực lượng vũ trang quân khu 7, góp phần với những thắng lợi giòn giã của chiến trường chung.

Từ năm 1951, Đại tướng Delattre De Tassigny _ Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đưa ra kế hoạch mới trên chiến trường Đông Dương, nhằm thực hiện những mục tiêu quan trọng là bình định cho được vùng tạm chiếm, phá hoại và tiến công vùng tự do… Riêng đối với Miền Đông Nam bộ, địch chủ trương đẩy mạnh tấn công ta bằng quân sự, kinh tế, chính trị trên cả 3 vùng chiến lược (vùng căn cứ du kích, vùng du kích – vùng tranh chấp  và vùng tạm chiếm) nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến, đè bẹp chiến tranh du kích, vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta để phục vụ cho chiến tranh xâm lược của chúng, đồng thời, chia cắt chiến trường Miền Đông và Miền Tây Nam bộ.

Để đối phó với hoạt động tăng cường đánh phá, lấn chiếm của địch, các Huyện ủy Lái Thiêu, Bến Cát chỉ đạo cho quân dân trong huyện tiến hành đào địa đạo để bám trụ địa bàn đánh địch. Tại Lái Thiêu, hàng ngàn dân công và đoàn viên Thanh niên cứu quốc tích cực tham gia đào địa đạo trong các xã chiến khu Thuận An Hòa. Công trình đang dang dở với gần 8 km địa đạo thì địch mở cuộc càn quét lớn. Bộ đội địa phương và dân quân du kích kiên cường bám địa bàn, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Hơn hai tháng sau địch mới chiếm được chiến khu Thuận An Hòa. Tại Bến Cát, mùa khô năm 1951, quân dân 3 xã An Điền, An Tây, Phú An do Đoàn Thanh niên cứu quốc làm nòng cốt, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Huyện đội phó Lâm Quốc Đăng bắt đầu đào địa đạo 3 xã tây nam Bến Cát. Đến cuối năm 1952, đào được hàng chục cây số địa đạo thì trận lụt lớn tháng 10/1952 buộc công trình phải dừng lại.

Trong suốt năm 1951, lực lượng ba thứ quân ở Bình Dương kiên cường bám trụ, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giữ vững được một số vùng căn cứ. Nhưng, bước sang năm 1952, địch ráo riết đẩy mạnh chính sách “bình định gấp rút, phản công quyết liệt”. Trong khi đó, ta gặp nhiều lúng túng trong việc sắp xếp lại chiến trường, bố trí lực lượng có nhiều điểm không hợp lý… khiến trong thời gian đầu địch đóng thêm nhiều đồn, tua mới  trên các trục đường 14, đường số 7, số 8, đường 16, đường 13… thực hiện chia cắt chiến trường, bao vây hiến khu Đ, chiếm đóng chiến khu Thuận An Hòa và nhiều vùng căn cứ khác…. Hoạt động của địch  gây cho ta nhiều khó khăn trong tác chiến và liên lạc giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Lực lượng cách mạng của các huyện Thủ Đức, Lái Thiêu, thị xã Thủ Dầu Một bị tróc khỏi địa bàn, hoạt động không hiệu quả, lại dễ bị tổn thất. Trong điều kiện đó, Tỉnh ủy chủ trương cho các huyện trên phải có biện pháp để trở về bám trụ địa phương, chỉ đạo nhân dân chiến đấu.

Thực hiện chủ trương trên, các ban ngành cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ để trở về bí mật bám trụ trong dân; các xã được phân loại và xác định phương châm đấu tranh thích hợp đối với 3 vùng chiến lược; lực lượng vũ trang được phân tán, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ trở về bám trụ địa phương, vừa chiến đấu tiêu hao tiêu diệt địch, đồng thời sẵn sàng chiến đấu tập trung khi cần thiết…

Với  những nỗ lực lớn, trong năm 1952, ta từng bước vượt qua khó khăn. Cán bộ các huyện Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát trở về bám đất, bám dân đánh địch, từng bước giải quyết khó khăn về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân, lực lượng vũ trang 3 thứ quân thu được nhiều kết quả tốt trong tác chiến. Nổi bật nhất là trận tấn công vào Ban chỉ huy cuộc hành quân “Nhà Lá” (2/1952), trận bẻ gãy cuộc hành quân lớn càn quét vào chiến khu Dương Minh Châu, phục kích đánh tiêu hao, tiêu diệt địch trên đường 13, 16… Trên các đồn điền cao su phía bắc của tỉnh, ta thực hiện tấn công phá hoại kinh tế địch, gây cho chúng nhiều tổn thất.

Như vậy, trong năm 1952, tuy ta gặp khó khăn lớn về kinh tế do thiên tai, nhưng quân dân và thế hệ trẻ Bình Dương đã cố gắng vượt qua khó khăn, từng bước củng cố sức mạnh quân sự, tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến của quân dân tỉnh nhà bước vào giai đoạn kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp với những điều kiện thuận lợi  và một khí thế mới.

III. VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG CHIẾN DỊCH ĐÔNG – XUÂN 1953 – 1954, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Từ giữa năm 1953, lực lượng so sánh giữa ta và địch trên chiến trường ngày càng thay đổi theo hướng có lợi cho ta. Tháng 7/1953, Hội đồng Chính phủ và Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch quân sự của Na-va[1] với quyết tâm tăng cường lấn chiếm đồng bằng khu 5 và Nam bộ, đồng thời, tăng cường lực lượng cơ động, mở một cuộc tiến công chiến lược nhằm giành thắng lợi to lớn về quân sự trong mùa thu 1954, buộc ta phải chấp nhận đàm phán theo điều kiện của chúng. Nhận rõ âm mưu địch, tháng 9/1953, Bộ chính trị TW Đảng họp, quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954, theo phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng. Đối với chiến trường Nam bộ, Bộ chính trị chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tăng cường công tác địch vận,  mở rộng căn cứ.

Thực hiện chủ trương của Bộ chính trị và chỉ thị của Bộ tư lệnh Phân liên khu Miền Đông, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một tích cực phát triển lực lượng, đẩy mạnh du kích chiến tranh nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chung. Nhân dân Thủ Dầu Một, trong đó, chủ yếu là nam nữ thanh niên hăng hái gia nhập lực lượng du kích và dân quân tự vệ. Từ tháng 9/1953 đến tháng 3/1954, toàn tỉnh đã xây dựng thêm 52 đội du kích xã, làm cho số đội viên du kích tăng từ 140 lên 513 người; dân quân tự vệ có 1862, du kích mật có 527 người. Bộ đội tỉnh , huyện và dân quân du kích đã tổ chức được 137 trận đánh lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1000 quân địch, tịch thu và phá hủy nhiều vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của chúng.

Bên cạnh đó, công tác vận động binh lính địch phát triển thành một phong trào rộng lớn và thu được nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm suy yếu địch. Chỉ riêng huyện Lái Thiêu, trong tháng 12/1953 đã vận động được 100 lính Khơ-me bỏ hàng ngũ địch trở về với gia đình. Trong toàn tỉnh, những tháng đầu 1953, ta đã vận động được hàng ngàn quân ngụy bỏ ngũ về nhà làm ăn hoặc quay súng về với kháng chiến.

Với những thắng lợi của công tác quân sự, địch vận, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, nhiều xã vùng tạm chiếm trở thành vùng tranh chấp, vùng tranh chấp trở thành căn cứ du kích. Hoạt động của vùng nông thôn giải phóng, vùng căn cứ ngày càng sôi động, rộn rịp với số dân từ các khu tập trung và vùng tạm chiếm trở về ngày càng đông.

Từ tháng 3/1954, Tỉnh ủy Thủ Biên chủ trương mở một đợt tiến công quân sự mạnh vào các vùng tạm chiếm nhằm  tiêu hao, tiêu diệt địch phối hợp chặt chẽ với chiến trường chung. Lực lượng vũ trang các thứ quân của ta đã phối hợp, tổ chức thắng lợi nhiều trận tiến công tiêu diệt địch ở bót Kiến Điền và nhiều bót khác trên đường 13; đánh tiêu diệt địch trong các trận chống càn ở Núi Cậu (Dầu Tiếng),  ở Thái Hòa, Tân Phước Khánh, Thuận An Hòa (Lái Thiêu)… Đặc biệt, trận tập kích đồn Cầu Định, đồn Bến Tranh, trận chống địch càn vào Truông Bồng Bông 11 ngày đêm, diệt nhiều  tên địch…  là những thắng lợi đỉnh cao của nhân dân Bình Dương trong Đông – Xuân 1953 – 1954, phối hợp nhịp nhàng với chiến thắng Điện Biên Phủ, cùng toàn dân buộc quân Pháp chấp nhận thất bại hoàn toàn.

Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Ngày 20/7/1954, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Genève về Việt Nam và Đông Dương. Chính phủ Pháp và các nước tham dự Hội nghị tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Cam pu chia và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của các nước trên. Hiệp định quy định việc ngừng bắn ở Việt Nam và trên toàn chiến trường Đông Dương. Các bên thực hiện đình chiến và di chuyển lực lượng vũ trang về mỗi bên theo giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17. Hiệp định cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia nhập các khối liên minh quân sự và không được để các nước khác dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích xâm lược.Việc thống nhất đất nước Việt Nam sẽ được thực hiện bằng một cuộc tổng tuyển cử vào tháng 7/ 1956. Để tiến tới tổng tuyển cử, hai miền Nam – Bắc Việt Nam sẽ tiến hành hiệp thương từ tháng 7/1955[1]…

Ngày 13/8/1954, Tỉnh ủy Thủ Biên tổ chức một cuộc mít-tinh lớn với hàng ngàn quần chúng đến dự tại Nhà Nai (chiến khu Đ), khẳng định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, của Hiệp định Genève và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của Đảng và Mặt trận Việt Minh đối với sự hy sinh to lớn của toàn thể nhân dân và cán bộ trên toàn tỉnh.

Sau 9 năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, nhân dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Các thế hệ nhân dân Bình Dương, trong đó có thế hệ trẻ, có quyền tự hào vì đã đóng góp hết sức mình vào cuộc kháng chiến anh dũng để bảo vệ độc lập và dân chủ, những thành quả to lớn mà toàn dân ta đã giành được trong cách mạng Tháng Tám. Từ những ngày đầu Nam bộ kháng chiến, thanh niên nam nữ Bình Dương đã cùng toàn dân nêu cao ý chí và quyết tâm chống giặc, tích cực chi viện sức người sức của cho mặt trận Sài Gòn-Gia Định chống Pháp và bảo vệ chính quyền nhân dân tại tỉnh nhà. Thời kỳ cả nước tiến hành kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh Đoàn Thanh niên cứu quốc, thanh niên Bình Dương luôn xung kích đi đầu trong các phong trào bình dân học vụ, xây dựng đời sống mới , xây dựng xã ấp chiến đấu, tăng gia sản xuất, tòng quân giết giặc. Qua các phong trào này, tuổi trẻ Bình Dương đã ghi vào lịch sử Đoàn, lịch sử của tỉnh những thành tích có tiếng vang trên cả nước: toàn tỉnh đạt thành tích khá trong phong trào bình dân học vụ của Miền Đông Nam bộ, riêng huyện Bến Cát được Xứ Đoàn tặng cờ “Tiền phong diệt giặc dốt”; đó là khu đời sống mới  kiểu mẫu ở xã Tân Hiệp; là trận đánh tháp canh cầu bà Kiên bằng lối đánh đặc công (19/3/1948), mà từ đó ngày 19/3 được chọn làm ngày kỷ niệm binh chủng đặc công của quân đội ta; là Đội nữ du kích Thanh Tuyền-đội nữ du kích đầu tiên của Nam bộ; Trung đội nữ tự vệ An Sơn cũng là một trong những đội tự vệ nữ đầu tiên của Nam bộ; là những tiến công quân sự tiêu hao, tiêu diệt địch suốt thời kỳ kháng chiến, những trận đánh phối hợp nhịp nhàng với chiến trường chung để giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch đông-xuân 1953-1954, đưa kháng chiến đến ngày toàn thắng.

Cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc, nhưng con đường cách mạng giải phóng dân tộc mới đi một nửa. Nhân dân và thanh niên Bình Dương phấn khởi đón mừng hòa bình, đồng thời, chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh cho thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Chương III

HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN  VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ ( 1954 – 1975)

 

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN THANH NIÊN LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN TỈNH THỦ DẦU MỘT TRONG CHIẾN DỊCH “TỐ CỘNG, DIỆT CỘNG” CỦA MỸ – DIỆM (1954- 1960)
Chuyển hướng xây dựng tổ chức Đoàn và phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève (1954-1956).
Trong không khí vui mừng kết thúc những năm dài chiến tranh ác liệt của cả nước, nhân dân Thủ Dầu Một phấn khởi đón mừng hòa bình và chờ đợi hiệp thương tổng tuyển cử để đất nước được hoàn toàn độc lập, thống nhất. Thế nhưng đế quốc Mỹ đã rắp tâm phá hoại Hiệp định Genève, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Để thực hiện âm mưu trên, ngay từ giữa năm 1954, chúng đã tiến hành hàng loạt những thủ đoạn nhằm độc chiếm Miền Nam Việt Nam, xây dựng và củng cố bộ máy ngụy quyền tay sai các cấp, tiếp đó, dùng mọi biện pháp để bóp chết lực lượng cách mạng và tinh thần yêu nước của nhân dân Miền Nam.

Trước tình hình đó, nhân dân Thủ Dầu Một lại cùng cả nước bước vào cuộc chiến đấu mới, tiếp tục đấu tranh cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Ngày 30/7/1954, Tỉnh ủy Thủ Biên tiến hành hội nghị bất thường nhằm quán triệt chủ trương của TW Đảng[1] và Xứ ủy Nam bộ về chuyển quân tập kết và chuyển hướng cách mạng Miền Nam từ đấu tranh vũ trang là chính sang đấu tranh chính trị. Hội nghị  đề ra những nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tỉnh, chủ yếu là việc sắp xếp lại lực lượng, xây dựng cơ sở bí mật để lãnh đạo phong trào, đưa phần lớn cán bộ chưa bị lộ ra hoạt động hợp pháp trong nhân dân và cùng nhân dân đấu tranh với địch, trước mắt là đấu tranh chính trị  đòi các quyền dân sinh, dân chủ và buộc địch thi hành các điều khoản của Hiệp định Genève.

Trên cơ sở chủ trương và chỉ đạo của Tỉnh ủy, phần lớn cán bộ không thuộc diện tập kết được sắp xếp, chuyển vùng, đưa về bám trụ tại các địa phương để hoạt động  công khai, hợp pháp. Cán bộ lãnh đạo các cấp  được bố trí phân tán trên khắp các địa bàn cơ sở từ nông thôn đến thành thị , ở các đồn điền, nhà máy… để củng cố, phát triển các cơ sở nòng cốt trong quần chúng và trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân. Trong đó, công tác vận động thanh niên là một trong những mặt công tác được Tỉnh ủy đặc biệt chú trọng.

Cuối năm 1954, do yêu cầu của tình hình mới, Xứ ủy Nam bộ quyết định phân chia lại địa bàn các tỉnh. Tỉnh Thủ Biên[1] được tách lại thành tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương đưa cán bộ trẻ vào hoạt động công khai hợp pháp trong quần chúng ở các thôn xã,  các đồn điền và trường học ở thành thị, nhằm củng cố hoặc gây dựng lại cơ sở Đoàn và phát động phong trào đấu tranh chính trị trong thanh niên  nông thôn, thanh niên công nhân và thanh niên, học sinh đô thị.

Ở nông thôn, ngay từ năm 1954, Ban thanh vận  Tỉnh ủy đã bố trí cán bộ Đoàn về hoạt động hợp pháp ở các xã, ấp vùng ven để tập hợp thanh thiếu  niên và gây dựng cơ sở Đoàn. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ xã, số lượng đoàn viên Thanh lao[1] của các xã, ấp  từng bước phát triển, tiến tới thành lập chi đoàn. Trong điều kiện hoạt động cách mạng chuyển từ công khai sang bí mật, từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị, thời kỳ này, hệ thống tổ chức chỉ đạo và phương thức hoạt động của Đoàn cũng thay đổi. Tổ chức Đoàn không còn hệ thống dọc, nhưng cứ ở đâu có chi bộ Đảng, thì ở đó ta có đoàn viên, có phân đoàn hoặc chi đoàn, do chi bộ trực tiếp chỉ đạo[1]. Công tác Đoàn đã vận động được nhiều thanh niên tham gia du kích xã, ấp; tập hợp  thanh thiếu niên vào các tổ chức quần chúng biến tướng như hội banh, hội văn nghệ để tuyên truyền nội dung pháp lý của Hiệp định Genève và giáo dục tinh thần yêu nước, lý tưởng cách mạng… Hoạt động của thanh thiếu niên thời kỳ này rất phong phú, đa dạng như đánh thùng, gõ mõ báo động, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ cách mạng bí mật về xã tuyên truyền, vận động quần chúng; theo dõi hoạt động đi lại của binh lính địch và bọn ác ôn để báo cáo lại cho cách mạng, làm giao liên hợp pháp, chuyển thư từ cho Đảng … Trong những năm 1954 – 1956, thanh niên nông thôn, nhất là nữ thanh niên, đã tích cực tham gia cùng bà con nông dân các huyện Lái Thiêu, Châu Thành, Bến Cát, Tân Uyên đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève, chống trả thù những người kháng chiến cũ, chống bọn địa chủ dựa vào chính quyền Diệm cướp đoạt lại ruộng đất của nông dân để làm đồn điền; các phân đoàn thanh niên ở các xã được chi bộ giao nhiệm vụ rải truyền đơn  kêu gọi nhân dân đấu tranh tẩy chay trò hề trưng cầu dân ý (23/10/55) và cuộc bầu cử giả hiệu để bầu chính phủ bù nhìn của Mỹ- Diệm (4/3/56)… Đặc biệt, trước âm mưu của địch muốn nắm lực lượng trẻ trong các tổ chức phản động của chúng như  Thanh niên Cộng hòa, Phụ nữ Cộng hòa và sử dụng thanh niên trong các lực lượng Bảo an, Dân vệ…, Tỉnh ủy chủ trương đưa đoàn viên và thanh niên cốt cán vào các sắc lính nhằm xây dựng sẵn cơ sở nội tuyến, chờ thời cơ đánh địch; đưa người của ta vào các tổ chức Thanh niên Cộng hòa, Phụ nữ Cộng hòa để hướng dẫn hoạt động của tổ chức này theo cách có lợi cho ta. Từ năm 1955 đến năm 1956, đồng chí Nguyễn Bá Niên, cán bộ thanh vận của tỉnh, cùng với các đồng chí phụ trách thanh vận ở các cơ sở đã đưa được trên 200 đoàn viên và thanh niên của ta vào lực lượng Dân vệ, Bảo an[1]. Ngoài ra, tổ chức Thanh niên Cộng hòa, Phụ nữ Cộng hòa ở hầu hết các xã đều có người của ta đưa vào. Cơ sở của ta trong các tổ chức này ở nhiều nơi (nổi bật nhất là ở Tân Hóa Khánh) đã tổ chức thắng lợi những cuộc đấu lý chống lại luận điệu tuyên truyền chống cộng của bọn công dân vụ.

Thủ Dầu Một là một trong những tỉnh Miền Đông Nam bộ có nhiều đồn điền cao su, cho nên việc xây dựng và phát triển các đoàn thể quần chúng trong công nhân là công tác không thể thiếu. Từ cuối năm 1954, Ban thanh vận Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đã đưa một số cán bộ trẻ vào làm việc trong các đồn điền, hoạt động hợp pháp nhằm xây dựng và phát triển cơ sở Đoàn trong công nhân. Ở sở cao su Trệt Cà Na, bên cạnh chi bộ Đảng, Ban thanh vận Tỉnh ủy đã cử cán bộ Đoàn[1] vào làm công nhân, hoạt động công khai để xây dựng và phát triển tổ chức Đoàn. Đến tháng 9/1955, ta đã xây dựng được ở đây 1 chi đoàn gồm 6 đoàn viên (trong đó có 1 đoàn viên được cài vào làm cơ sở nội tuyến trong lính ngụy) và 36 thanh niên có cảm tình với cách mạng. Với lực lượng đoàn viên và thanh niên đã được giác ngộ lý tưởng cách mạng làm nòng cốt, thanh niên công nhân ở đây đã có nhiều hoạt động công khai hợp pháp chống chính quyền Mỹ- Diệm như không đi bỏ phiếu  trong trò hề trưng cầu dân ý để phế truất Bảo Đại của Ngô Đình Diệm, tổ chức các buổi  sinh hoạt văn hóa, văn nghệ… Điển hình là đêm văn nghệ “phá u tối” được tổ chức  vào mồng 4 Tết nguyên đán năm 1955, thu hút hàng trăm thanh niên trong sở và cả thanh niên,  quần chúng các xóm ấp lân cận ( ấp Trảng Lớn và Sở Thiêm), nhằm bước đầu tuyên truyền, khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng, đồng thời, thể hiện khí thế cách mạng và nhiệt huyết của tuổi trẻ. Tuy đêm liên hoan bị địch khủng bố, cán bộ phụ trách Đoàn bị lộ, phải thoát ly vào hoạt động bí mật, nhưng chi đoàn và tổ chức thanh niên ở đây vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Đảng[1].

Được sự lãnh đạo của Đảng và có chi đoàn làm nòng cốt, phong trào đấu tranh chính trị của công nhân Thủ Dầu Một trong những năm 1954- 1956 đã gây được những tiếng vang lớn, làm rúng động chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ. Nổi bật nhất là cuộc đấu tranh của hơn 40.000 công nhân cao su ở các đồn điền trong tỉnh, trong đó có công nhân đồn điền Dầu Tiếng vào tháng 11/1954, đấu tranh đòi các quyền lợi dân sinh dân chủ. Tháng 2/1955, hơn 5.000 công nhân cao su Dầu Tiếng lại đấu tranh đòi thực hiện chế độ ngày làm việc 8 giờ, đòi tăng lương, không cúp lương khi nghỉ bệnh. Ngày 1/5/1955, hàng chục ngàn công nhân cao su Thủ Dầu Một đã tổ chức thành đội ngũ kéo xuống Sài Gòn, phối hợp cùng công nhân các tỉnh Miền Đông Nam bộ, buộc chính quyền và các chủ sở cùng đại diện công nhân ký vào bản “Cộng đồng khế ước công nhân cao su” với 18 yêu sách bảo vệ quyền lợi của công nhân cao su…

Tỉnh ủy cũng đặc biệt coi trọng việc tổ chức và đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng của thanh thiếu niên và học sinh ở các thị xã, thị trấn. Vì vậy, ngay từ sau đình chiến, Ban thanh vận đã cử cán bộ Đoàn phụ trách phong trào học sinh, sinh viên và thanh thiếu niên ở đô thị. Trường trung học Trịnh Hoài Đức là một trong những trường sớm có phong trào đấu tranh yêu nước sôi nổi. Nhiều học sinh được tổ chức treo cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết khẩu hiệu đả đảo đế quốc Mỹ, rải truyền đơn qua hình thức các viên kẹo ngay tại trường nhằm khơi dậy tinh thần dân tộc và phát động đấu tranh chính trị chống Mỹ – Diệm. Được cán bộ cách mạng giáo dục tinh thần yêu nước,  các em học sinh thiếu niên trường Tiểu học nữ Châu Thành cố ý đi học muộn trong ngày đầu tuần để không thèm chào cờ ngụy. Một số em còn nhận nhiệm vụ theo dõi  hoạt động đi lại và các hành vi của bọn ác ôn để báo cho cán bộ cách mạng…

Cùng với phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi của nhân dân tỉnh nhà và nhân dân cả nước, các hình thức hoạt động phong phú của đoàn viên, thanh thiếu niên Thủ Dầu Một đã góp phần làm cho chế độ thực dân mới của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam ngay từ  đầu đã phải đối phó với một tình hình chính trị – xã hội không lúc nào yên ổn. Đây cũng là bước đầu tập dượt, chuẩn bị cho thế hệ trẻ Thủ Dầu Một bước vào thời kỳ đấu tranh chống Mỹ tiếp theo với những hoạt động  phong phú, sôi nổi và những mục tiêu chính trị cao hơn.

Đoàn viên, thanh niên tham gia đấu tranh chống “tố cộng, diệt cộng” và phong trào diệt ác, trừ gian (1956- 1959)
Cuối năm 1955, sau khi dẹp xong các lực lượng thân Pháp, chính quyền Diệm bắt đầu công khai thực hiện chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, truy tìm, bắt bớ, giết hại dã man những người kháng chiến cũ và những người chúng tình nghi là Việt Cộng; đe dọa, khủng bố tinh thần đối với các gia đình có người thân đi tập kết. Từ giữa năm 1956, ở Miền Đông Nam bộ, chúng tiến hành chiến dịch Trương Tấn Bửu, càn quét, đánh phá ác liệt các vùng nông thôn, căn cứ kháng chiến cũ và các đồn điền cao su bằng các biện pháp quân sự, hành chính, chiến tranh tâm lý vô cùng thâm độc…

Ngay từ đầu, chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của địch đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của nhân dân ta. Ở Thủ Dầu Một, nhân dân các huyện Châu Thành, Bến Cát, công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng biểu tình, đấu tranh trực diện với địch, nêu cao các khẩu hiệu : “ Đả đảo khủng bố”, “Chống trả thù những người kháng chiến cũ”, “chống bắt bớ, giam cầm trái phép”, giành giật lại cán bộ bị địch bắt. Nông dân đấu tranh chống cướp đất, đòi bồi thường nhân mạng trong các cuộc đàn áp, giết người vô cớ của địch. Tuy vậy, sự khủng bố ác liệt của chiến dịch Trương Tấn Bửu ngày càng gây nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Ở nông thôn, nhiều xã không còn chi bộ, chỉ còn 1, 2 đảng viên hoạt động đơn tuyến. Một số xã như Phú Mỹ (Châu Thành), Thanh Tuyền (Bến Cát) trở thành vùng trắng, không còn đảng viên. Tại đây, các đoàn viên thanh niên chưa bị lộ đã phát huy vai trò xung kích, trở thành nòng cốt trực tiếp lãnh đạo quần chúng đấu tranh chính trị chống “tố cộng, diệt cộng” , chống khủng bố và bắt, giết người vô cớ của chính quyền Diệm. Trong các đồn điền cao su, chiến dịch Trương Tấn Bửu cũng gây nhiều khó khăn cho phong trào đấu tranh của công nhân. Địch phát triển các tổ chức phản động, tăng cường mạng lưới và các chính sách kềm kẹp, kiểm soát gắt gao, đưa quân lùng sục các làng cao su tìm bắt những người cầm đầu phong trào đấu tranh của công nhân. Nhiều cán bộ bị bắt, số còn lại phải rút về hoạt động bất hợp pháp tại các vùng nông thôn ven rừng làm cho hệ thống liên lạc bị gián đoạn nghiêm trọng, phong trào đấu tranh chính trị ở một số nơi tạm lắng. Tuy vậy, nhiều nơi trong nhân dân, trong cán bộ đã bộc lộ nhu cầu phải xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị. Từ đó, hình thành các đội vũ trang tuyên truyền của xã Thanh Tuyền, các nhóm vũ trang tự vệ ở xã Long Nguyên, nhóm vũ trang của đồng chí  Chín Quỳ ở chiến khu Đ…

Từ yêu cầu của thực tiễn cách mạng Miền Nam, tháng 8/1956, đồng chí  Lê Duẩn (Bí thư Xứ ủy Nam bộ) viết Đề cương đường lối cách mạng Miền Nam làm phương hướng chỉ đạo cho các cấp bộ Đảng toàn miền. Trên cơ sở đó, tháng 12/1956, Xứ ủy họp, đề ra chủ trương về xây dựng lực lượng tự vệ và lực lượng vũ trang tuyên truyền hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tiến tới tích cực phát triển lực lượng để làm cách mạng đánh đổ Mỹ – Diệm…

Quán triệt chủ trương của Xứ ủy, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một từng bước chuyển hướng đấu tranh, xây dựng và sử dụng các đội vũ trang tự vệ hỗ trợ cho phong trào quần chúng. Năm 1957, Tỉnh ủy cử cán bộ liên lạc, móc nối với các nhóm vũ trang của ông Trần Văn Quỳ, các nhóm “cướp rừng xanh” của các ông Tám Liễu, Uùt Bời, giáo dục, cảm hóa được nhiều người trở thành cán bộ cách mạng, tích cực tham gia phong trào diệt ác, trừ gian. Trước đó, tại nhiều xã của Thủ Dầu Một, một số cán bộ, đảng viên cũng đã tự phát lập ra các đội vũ trang tự vệ, mà lực lượng chủ yếu là thanh niên xóm ấp. Nổi bật là huyện Bến Cát, với đội vũ trang của đồng chí Nguyễn Bá Niên, tổ chức và hoạt động lén Tỉnh ủy, chuyên dùng rựa diệt ác, trừ gian, bảo vệ cán bộ. Nhờ đó, phần nào hạn chế được tổn thất của lực lượng cách mạng trước sự khủng bố ác liệt của kẻ thù.

Từ giữa năm 1957, Liên tỉnh ủy Miền Đông Nam bộ cũng dựa vào lực lượng giáo phái ly khai, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ quân sự tại rừng Hố Mên thuộc xã Long Nguyên (Bến Cát). Lực lượng vũ trang của Liên tỉnh ủy nhanh chóng phát triển thành 3 trung đội, đứng chân trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, trong đó, Liên tỉnh ủy dành riêng 1 đơn vị nhỏ dùng để phối hợp với cán bộ xóm, ấp tổ chức những cuộc vũ trang tuyên truyền, diệt ác, trừ gian hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Nhờ đó, phong trào diệt ác, trừ gian và đấu tranh chính trị của các xã Thanh Tuyền, Thanh An, Long Nguyên, Kiến An, Kiến Điền (bắc Bến Cát) phát triển mạnh. Nổi bật nhất là các cuộc đấu tranh mạnh mẽ và dai dẳng của nhân dân Bến Cát, làm địch phải hủy bỏ kế hoạch phá rừng, lập khu trù mật Phó Bình (rừng Long Nguyên, Bến Cát) ; nhân dân Tân Uyên đấu tranh chống cào nhà, gom dân và cuối cùng phá rã khu trù mật Khánh Vân. Đến cuối năm 1957, lực lượng vũ trang tập trung của Xứ ủy và của Liên tỉnh ủy Miền Đông đã hình thành và phát triển ở cấp đại đội. Sau khi rút lực lượng về trên, Liên tỉnh ủy để lại cho Thủ Dầu Một 1 tiểu đội làm nhiệm vụ bảo vệ Tỉnh ủy. Với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân các xã Kiến Điền, Kiến An, Long Nguyên, An Sơn, An Thạnh…, của công nhân và tiểu thương huyện Châu Thành và thị xã Thủ Dầu Một được khôi phục và phát triển mạnh mẽ. Trong công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy cao su Thủ Dầu Một, phong trào đấu tranh của công nhân cao su được khôi phục và phát triển. Nhiều làng, sở đã thành lập được chi bộ Đảng, chi đoàn thanh niên và tổ chức công đoàn. Về mặt quân sự, năm 1957, dưới danh nghĩa lực lượng “giáo phái ly khai”, lực lượng vũ trang của Liên tỉnh ủy Miền Đông đã tổ chức thắng lợi các cuộc tiến công  vào đồn điền Bến Củi và thị trấn Minh Thạnh, mở đầu cho tiến công quân sự của lực lượng vũ trang cách mạng. Đêm 10 rạng 11/ 8/ 1958, Ban quân sự Miền Đông mở một trận đánh lớn vào chi khu quân sự Dầu Tiếng, nơi địch cho là đã bình định xong. Trận đánh thắng lợi gây tiếng vang lớn, đồng thời, thu nhiều chiến lợi phẩm, giải quyết được một phần khó khăn về vật chất cho lực lượng vũ trang và cán bộ ta trong vùng căn cứ.

Liên tiếp bị thất bại về chính trị và tức tối vì những đòn tấn công quân sự của cách mạng, Mỹ – Diệm đã nhẫn tâm gây ra cuộc đầu độc tù chính trị ở nhà tù Phú Lợi. Trước tội ác của địch, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một phát động một cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn trên toàn tỉnh, tố cáo hành động dã man của Mỹ – Diệm. Cuộc đấu tranh không những nhanh chóng lan rộng trên toàn quốc mà còn thức tỉnh lương tri, kêu gọi sự đồng tình của lực lượng hòa bình, dân chủ trên toàn thế giới.

Trước phong trào quần chúng ngày một lên cao, chính quyền Ngô Đình Diệm tung ra đạo luật số 10/ 1959 (6/5/59), lập Tòa án quân sự, lê máy chém khắp nơi để tiêu diệt những người yêu nước. Chỉ trong vài tháng, hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng đã bị tàn sát dã man. Nhưng, địch càng tăng cường khủng bố, lực lượng cách mạng càng bị tổn thất thì tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng của nhân dân Thủ Dầu Một và nhân dân Miền Nam  càng dâng lên mạnh mẽ. Lớp trước ngã, lớp sau đứng dậy. Hoạt động diệt ác, trừ gian và đấu tranh vũ trang lẻ tẻ ở các địa phương vẫn tiếp tục phát triển. Tháng 6/1959, lực lượng vũ trang xã Long Nguyên (Bến Cát) kết hợp với cơ sở nội tuyến là thanh niên dân vệ tổ chức thắng lợi trận đánh bót dân vệ Long Cầu, thu 14 súng trường và cạc-bin về trang bị cho lực lượng vũ trang ta. Ở các đồn điền cao su, từ giữa năm 1959, dựa vào luật 10/59, bọn chủ sở đã tước bỏ tất cả những quyền lợi mà công nhân đã giành được trong những năm qua, tăng cường đàn áp, bóc lột công nhân, sa thải công nhân lâu năm, tuyển dân di cư và nông dân vào bố trí xen kẻ để phân tán lực lượng ta nhằm dễ bề kìm kẹp công nhân. Trước tình hình đó, công nhân cao su Thủ Dầu Một lại nổi lên một làn sóng đấu tranh mới, nổi bật là phong trào đấu tranh của công nhân cao su Dầu Tiếng. Trong đó, thanh niên công nhân đã thể hiện vai trò nòng cốt, xung kích trong các cuộc đấu tranh của quần chúng đòi các chủ đồn điền thi hành lại một số quyền lợi mà chúng đã cắt xén của công nhân. Tại một số làng cao su, các chi đoàn thanh niên còn lập ra tổ chống trộm cướp, chống dân vệ bắt gà vịt của dân. Những tháng cuối năm 1959, Ban cán sự Đảng quận cao su Dầu Tiếng cũng tuyển chọn một số thanh niên công nhân cốt cán thành lập lực lượng vũ trang tự vệ hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, đồng thời  chuẩn bị cho những cuộc nổi dậy rộng lớn hơn trên toàn tỉnh.

Trong  thời kỳ khó khăn ác liệt của cách mạng Miền Nam từ 1956 đến 1959, ở Thủ Dầu Một, tổ chức cơ sở Đoàn vẫn tiếp tục phát triển và củng cố. Nhiều đoàn viên thanh niên đã được rèn luyện, thử thách và trưởng thành, được kết nạp vào Đảng, bù đắp một phần những tổn thất của lực lượng cán bộ đảng viên qua các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” và Luật 10/59 đẫm máu. Thanh niên cũng phát huy vai trò xung kích trong các đội vũ trang tự vệ địa phương, hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Thanh niên là lực lượng chủ yếu trong các đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh và của khu đứng chân trên địa bàn  tỉnh thực hiện những cuộc đấu tranh vũ trang tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, tích cực chuẩn bị thực lực cho phong trào “đồng khởi” của tỉnh nhà vào đầu năm 1960.

Đoàn viên, thanh niên Thủ Dầu Một trong phong trào “đồng khởi”
Tháng 1/1959, Ban chấp hành TW Đảng họp Hội nghị lần thứ 15, xác định phương châm, phương pháp cách mạng Miền Nam. Hội nghị nêu rõ : con đường phát triển cơ bản của cách mạng Miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân.

Sau khi Xứ ủy họp các Bí thư Tỉnh ủy quán triệt Nghị quyết 15, toàn Miền Nam khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 17/1/1960, nhân dân Bến Tre nổ phát pháo đầu tiên mở màn cho phong trào đồng khởi ở Miền Tây Nam bộ. Ngày 27/1/1960, lực lượng vũ trang của ta giành thắng lợi trong cuộc tấn công căn cứ Tua Hai (Tây Ninh). Khí thế đồng khởi lan rộng khắp Miền Nam. Tại Thủ Dầu Một, phong trào diệt ác trừ gian ngày càng phát triển mạnh mẽ. Ngày 31/1/1960, Tỉnh ủy họp  Ban chấp hành nhằm quán triệt Nghị quyết TW và bàn kế hoạch khởi nghĩa trong tỉnh. Sau khi chỉ đạo cho các huyện, thị củng cố tổ chức và chuẩn bị lực lượng, giữa tháng 2/1960, Tỉnh ủy họp bất thường mở rộng đến các Bí thư huyện, thị để kiểm tra lại công tác chuẩn bị và bàn phương án khởi nghĩa. Về lực lượng vũ trang, bên cạnh 1 trung đội vũ trang tập trung và một số cán bộ do khu tăng cường, Tỉnh ủy đã vận động lực lượng thanh niên nòng cốt tham gia cách mạng, tổ chức và huấn luyện cấp tốc thành 2 trung đội vũ trang của tỉnh. Ngoài ra, hầu hết các xã đều có đội vũ trang tự vệ địa phương, phần lớn do lực lượng thanh niên đảm trách. Trong các làng thuộc đồn điền cao su Dầu Tiếng, tổ chức cơ sở Đảng và các chi đoàn thanh niên lập ra các đội chống trộm cướp, chống bọn dân vệ bắt gà vịt của dân. Trước đồng khởi, tổ chức cơ sở Đảng chọn lọc trong thanh niên công nhân, lập ra đội vũ trang của công nhân gồm 8 đội viên, làm lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.Về lực lượng lãnh đạo và mạng lưới cơ sở, Tỉnh ủy chỉ thị cho các huyện, thị khẩn trương chọn các đoàn viên tích cực phát triển thành đảng viên mới để bổ sung, củng cố lại chi bộ Đảng, nhất là ở những nơi lực lượng cán bộ đảng viên và quần chúng cách mạng còn ít (như Tân Uyên, Đồng Phú…). Tỉnh ủy quyết định chọn ngày 25/2/1960 làm ngày đồng khởi trong toàn tỉnh, với 3 điểm chỉ đạo là các xã An Điền, An Tây, Phú An (Bến Cát). Các nơi khác đều chọn điểm để tổ chức hoạt động phối hợp đồng loạt với phong trào chung của tỉnh.

Đêm 25/2/60, các tổ vũ trang kết hợp với lực lượng nổi dậy của quần chúng, đánh đồn bót, diệt tề, trừ gian rầm rộ tại các xã Thới Hòa, An Điền, An Tây, Phú An (Bến Cát). Các xã khác (Tân Định, Long Nguyên, Chánh Phú Hòa, Thanh An, Thanh Tuyền… ) và các làng thuộc đồn điền cao su Dầu Tiếng, nhân dân, công nhân phối hợp hành động. Trong đêm, quần chúng nổi dậy đánh thùng, gõ mõ báo động; ban ngày đấu tranh trực diện với địch và tuyên truyền, vận động binh lính địch bỏ ngũ… Ở Lái Thiêu, Châu Thành, thị xã Thủ Dầu Một, trong đêm khởi nghĩa, các tổ hành động kết hợp với lực lượng quần chúng nổi dậy diệt ác, trừ gian trên nhiều xã. Đồng khởi lan mạnh ra nhiều xã của Tân Uyên, Phú Giáo… Ngoài ra, tại trung tâm thị xã Thủ Dầu Một và các thị trấn, phong trào đấu tranh chính trị dưới các hình thức đình công, bãi thị đòi giảm thuế, đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ, chống bắt lính, đôn quân… diễn ra sôi nổi, tích cực phối hợp với  các cuộc nổi dậy của công nhân, nông dân toàn tỉnh.

Sau hơn 1 tháng tiến hành đồng khởi, quân và dân Thủ Dầu Một đã giải phóng được 40 ấp thuộc 25 xã trên 46 xã trong tỉnh, làm chủ 10 làng công nhân trong tổng số 22 làng; diệt hàng trăm tên ác ôn, giải tán nhiều tổ chức tề xã, ấp; bức rút, bức hàng và tiêu diệt hàng chục đồn bót địch, tịch thu nhiều súng đạn bổ sung cho lực lượng vũ trang của ta quần chúng[1].

Với thắng lợi của phong trào đồng khởi, khí thế cách mạng của quần chúng được nâng lên một bước, đồng thời, ta đã mở ra được một vùng căn cứ khá rộng lớn, liên hoàn giữa các xã từ bắc Lái Thiêu qua Châu Thành, Bến Cát, Long Nguyên, Dầu Tiếng nối với vùng căn cứ rừng núi Hớn Quản, Lộc Ninh, Phước Long, tạo thế đứng vững chắc cho lực lượng cách mạng trong tỉnh và trong khu vực. Đó là những điều kiện thuận lợi quan trọng làm cơ sở cho Đảng bộ và nhân dân Thủ Dầu Một tiếp tục giành thắng lợi trong giai đoạn tiếp theo.

ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN THỦ DẦU MỘT TRONG GIAI ĐOẠN CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ (1961 – 1965)
Đại hội Tỉnh Đoàn lần thứ I. Sự hình thành và phát triển hệ thống tổ chức Đoàn 3 cấp và Hội Liên hiệp thanh niên giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một
Sau phong trào đồng khởi, vùng giải phóng của ta được mở rộng, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời, tạo điều kiện cho tổ chức Đoàn và phong trào thanh thiếu niên phát triển mạnh mẽ.

Tháng 6/1961, tỉnh Thủ Biên được tách thành các tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một và tỉnh Phước Thành, tương ứng với địa danh hành chính của địch. Tháng 7/1961, Thường vụ Tỉnh ủy Thủ Dầu Một ra quyết định thành lập Ban Dân vận, trong đó bộ phận Thanh vận do đồng chí Trần Bình làm trưởng ban[1]. Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, cuối năm 1961, Ban thanh vận tỉnh ủy Thủ Dầu Một[1] triệu tập Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng tỉnh. Về dự Đại hội có 54 đại biểu đoàn viên các huyện, thị và các đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Tỉnh Đoàn[1]. Từ đây, hệ thống tổ chức Đoàn của Thủ Dầu Một đã hình thành ở cả ba cấp: tỉnh, huyện và cơ sở.

Để mở rộng hơn nữa việc đoàn kết, tập hợp lực lượng thanh niên, Tỉnh Đoàn tích cực chuẩn bị mở Đại hội đại biểu thanh niên toàn tỉnh. Tháng 3/ 1962, Đại hội thanh niên tỉnh Thủ Dầu Một được triệu tập với sự tham dự của 72 đại biểu (trong đó có 26 đại biểu là thanh niên hoạt động bí mật ở các thị xã, thị trấn, trường học trong vùng địch tạm chiếm). Đại hội quyết định thành lập Hội Liên hiệp thanh niên giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một, bầu ra Ban chấp hành hội[1].

Với sự hình thành vững chắc của tổ chức Đoàn, Hội, phong trào thanh, thiếu niên Thủ Dầu Một phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và hiệu quả hoạt động.

Về số lượng, thời kỳ này toàn tỉnh có khoảng 1.000 đoàn viên và hội viên. Số lượng cán bộ Đoàn cũng còn rất ít: Bến Cát là huyện có đông cán bộ nhất cũng chỉ có 6 người; Tân Uyên : 4; thị xã Thủ Dầu Một :1; Lái Thiêu : 2; Dĩ An : 2. Về tổ chức Đoàn cơ sở : huyện Bến Cát, các xã đều có chi đoàn; thị trấn Mỹ Phước có 2 đoàn viên mật; Châu Thành: các xã Vĩnh Tân, Tân Bình, Hòa Lợi có chi đoàn; Tân Uyên : các xã Tân Hòa, Thường Lang, Tân Tịch có chi đoàn; Lái Thiêu, Dĩ An chỉ có chi đoàn mật, sinh hoạt đơn tuyến[1].

Chiến tranh ác liệt, cơ quan Tỉnh Đoàn lúc bấy giờ phải thường xuyên di dời qua nhiều địa danh: Hốc Măng, Nhà Mát, Hăng Niên, Đường Long, Bàu Khai, Bà Đã, Bà Hào, Suối Cái, Chiến khu Đ… và ngày đêm chống chọi với bom pháo của địch. Điều kiện công tác hết sức khó khăn, nhiều hy sinh mất mát,  nhưng Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một vẫn chú trọng mở các lớp huấn luyện nhằm bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và nâng cao năng lực hoạt động cho cán bộ Đoàn, như : lớp huấn luyện công tác đô thị được tổ chức tại xã Phú An vào tháng 2/1962 dành cho cán bộ Đoàn hoạt động công khai ở các thị xã, thị trấn; lớp huấn luyện cán bộ làm công tác học sinh của Đoàn được tổ chức ở Cầu Thợ Uïc, xã Phú Chánh vào tháng 6/1963, các lớp huấn luyện dành cho các Bí thư chi đoàn… Cuối năm 1963, Tỉnh Đoàn mở Đại hội thể dục thể thao toàn tỉnh (tại Bàu Khai, xã Kiến An), nhằm vạch ra phương hướng hoạt động  cho phong trào văn hóa, thể dục thể thao của tỉnh, thu hút lực lượng trẻ tham gia vào các hoạt động phong phú của Đoàn, góp phần nâng cao thể lực và hoạt động giải trí lành mạnh cho thanh niên và nhân dân vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến[1].

Sự phát triển mạnh mẽ về tổ chức và các hoạt động tích cực, sáng tạo của Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một đã giúp cho phong trào thanh thiếu niên tỉnh nhà ngày một trưởng thành; góp phần đào tạo, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ Thủ Dầu Một những năng lực và phẩm chất cần thiết để có thể gánh vai cùng toàn dân làm thất bại mọi âm mưu xâm lược mới của kẻ thù.

Đoàn viên, thanh niên Thủ Dầu Một góp phần cùng cả nước đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
Với phong trào đồng khởi của nhân dân Miền Nam, thế và lực của địch ngày càng thay đổi theo hướng bất lợi cho chúng. Trước tình hình đó, năm 1961, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, lấy “ấp chiến lược” làm quốc sách, quyết tâm bình định Miền Nam, đánh bại lực lượng vũ trang và hạ tầng cơ sở cách mạng ở miền Nam. Để đạt được mục tiêu trên, chúng gấp rút tăng cường quân ngụy về mọi mặt dưới sự hỗ trợ tích cực của hệ thống cố vấn quân sự và vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại của Mỹ; đồng thời phong tỏa tuyến biên giới và vùng biển, mở rộng các hoạt động bí mật ra Bắc để nhanh chóng giành thắng lợi.

Trên địa bàn Thủ Dầu Một, địch tăng cường bắt lính, đóng đồn và liên tục hành quân càn quét khắp nơi để tiêu diệt lực lượng vũ trang và mạng lưới cơ sở cách mạng, gom dân, lập hàng loạt ấp chiến lược, chiếm đóng lại những vùng nông thôn do ta làm chủ sau phong trào đồng khởi. Đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một, phong trào thanh niên trong tỉnh suốt thời kỳ 1961 – 1965 diễn ra sôi nổi, đi đầu trên nhiều lĩnh vực công tác cách mạng.

Trước hết là phong trào đấu tranh chống bắt lính, trốn đi lính ngụy và phong trào tình nguyện tham gia lực lượng cách mạng được thanh niên tích cực hưởng ứng. Khắp các địa phương trong tỉnh, thanh niên tình nguyện thoát ly gia đình, tham gia cách mạng ngày càng đông, kể cả thanh niên nam, nữ trong vùng địch tạm chiếm cũng trốn gia đình vào vùng căn cứ tham gia cách mạng. Chỉ tính đến tháng 9/ 1960, riêng ở các làng cao su của tỉnh đã có tới vài trăm thanh niên đi bộ đội, trong đó có đông đảo thanh niên công nhân thuộc  đồn điền cao su Dầu Tiếng. Điểm nổi bật ở Dầu Tiếng là ta đã vận động được lực lượng thanh niên trong lòng địch. Với thành tích trong phong trào tòng quân giết giặc, năm 1962, thanh niên Dầu Tiếng được Tỉnh Đoàn tặng Bằng khen[1].

Thị xã Thủ Dầu Một cũng là một trong những điểm vận động được nhiều thanh niên thoát ly gia đình, tham gia kháng chiến. Đêm 25/7/1964, cán bộ Mặt trận giải phóng của tỉnh về ấp Lò Chén, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một mời thanh niên ra họp ở ấp Bà Lụa để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Mặt trận, khơi dậy tinh thần yêu nước và cách mạng trong thanh niên, vận động thanh niên tòng quân giết giặc. Ngay trong đêm đã có gần 60 thanh niên tình nguyện gia nhập bộ đội giải phóng (trong đó có một nửa là anh em thanh niên người Hoa). Sốâ thanh niên này được đưa về căn cứ Long Nguyên học lớp huấn luyện quân sự cấp tốc, sau đó được điều về các đơn vị lực lượng vũ trang[1]. Trong những năm 1963 – 1964, nhiều học sinh trường Trung học Trịnh Hoài Đức cũng thoát ly về chiến khu tham gia cách mạng. Những học sinh còn có điều kiện hoạt động hợp pháp thì được tổ chức ở lại tiếp tục hoạt động  trong lòng địch[1].

Phong trào tòng quân sôi nổi  của đoàn viên, thanh niên Thủ Dầu Một đã kịp thời bổ sung lực lượng cho các tổ chức cơ sở Đảng, các Đảng bộ địa phương, và nhất là cho các đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh. Đến đầu năm 1961, các huyện trong tỉnh đều có lực lượng vũ trang tập trung[1]; các xã đều có từ 1 đến 2 tiểu đội du kích; một số ấp có đến gần 1 tiểu đội du kích. Đặc biệt, các xã Long Nguyên, Chánh Phú Hòa, Thanh Tuyền, lực lượng du kích mỗi xã lên đến hơn 1 trung đội; ở Long Nguyên, Bến Súc cao nhất có lúc có đến 2 trung đội du kích. Bên cạnh đó, nhiều địa phương còn tổ chức đội du kích mật, tự vệ mật. Trong những năm 1962 – 1964, dù chiến tranh ác liệt, lực lượng vũ trang các thứ quân vẫn không ngừng được bổ sung quân số, bảo đảm khả năng đối phó với mức độ bình định ngày càng ác liệt của Mỹ – ngụy.

Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của 3 thứ quân trên toàn tỉnh, phong trào đấu tranh vũ trang ở Thủ Dầu Một diễn ra mạnh mẽ và thu được nhiều thắng lợi gây tiếng vang lớn. Điển hình là trận tấn công vào tỉnh lỵ Phước Thành ngày 17/9/1961. Trong trận này, lực lượng chủ lực của Miền và Khu phối hợp với bộ đội địa phương Phú Giáo, Tân Uyên, Phước Thành và dân quân du kích các xã thực hiện các mũi tấn công, nghi binh, chặn viện, phá đường giao thông tiếp tế, tiêu diệt đồn bót địch, giải phóng tỉnh lỵ Phước Thành. Đây là một chiến thắng lớn, đánh phủ đầu chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ – ngụy, làm cho chúng hết sức bất ngờ và hoang mang. Phát huy chiến thắng Phước Thành, nhiều nơi ở Tân Uyên, Phú Giáo, thị xã Thủ Dầu Một, bộ đội địa phương, du kích các xã kết hợp với mũi nổi dậy của quần chúng liên tục tiến công vào hệ thống đồn bót địch, thực hiện vũ trang tuyên  truyền diệt ác, phá kìm, chống hành quân càn quét. Từ năm 1962, địch càng đẩy mạnh công cuộc bình định, gom dân, lập ấp chiến lược với kế hoạch Stalay – Taylor, quyết tâm bình định Miền Nam trong 18 tháng. Ở Thủ Dầu Một, chúng xây dựng 3 ấp kiểu mẫu thí điểm ( Bến Tượng, Phó Bình, Tân Bình) cùng nhiều ấp điểm của các quận và hàng loạt ấp chiến lược ở khắp nơi trên toàn tỉnh. Chúng tiến hành càn quét, chà đi xát lại nhiều vùng nông thôn để gom dân, lập ấp chiến lược. Trước tình hình đó, tháng 2/ 1962, Bộ chính trị ra nghị quyết đặt nhiệm vụ phá ấp chiến lược, phá thế kềm của địch là nhiệm vụ lâu dài và cấp bách. Từ giữa năm 1962, phong trào phá ấp chiến lược diễn ra sôi nổi. Nhiều ấp chiến lược địch vừa lập xong ta phá, địch lập lại, ta lại phá… Bước sang năm 1963, với khí thế “thi đua với Aáp Bắc, giết giặc lập công”, phong trào đấu tranh vũ trang và phá ấp chiến lược tiếp tục diễn ra sôi nổi . Trận Đường Long – Bến Cát (31/12/ 1963) là một trận chống càn quy mô lớn, diệt gọn tiểu đoàn biệt động quân “ Cọp đen” khét tiếng sừng sõ của Mỹ – ngụy, làm hoang mang tinh thần binh sĩ địch, bảo vệ an toàn căn cứ Long Nguyên, nơi đứng chân của Tỉnh  ủy… Ngoài ra, lực lượng vũ trang tập trung của các huyện phối hợp với du kích các xã và các mũi chính trị, binh vận của nhân dân, liên tục tổ chức chống càn và tiến công vào hệ thống đồn bót địch ở khắp nơi trên toàn tỉnh, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bẻ gãy nhiều cuộc càn, phá tan nhiều ấp chiến lược, chuyển thế một số vùng kềm thành vùng tranh chấp mạnh.

Phong trào du kích chiến tranh cũng phát triển mạnh trong toàn tỉnh. Dân quân du kích các xã, ấp ( trong đó, thanh niên giữ vai trò chủ yếu) tổ chức chống địch càn quét, lấn chiếm bằng nhiều hình thức phong phú. Nhân dân dùng mìn đánh địch, tích cực xây dựng xã, ấp chiến đấu, làm hầm hố chông, đào công sự, treo bảng cấm nhằm cản chân địch trong những cuộc hành quân càn quét, bảo vệ được nhiều căn cứ lõm. Chiến tranh du kích phối hợp chặt chẽ với các mũi đấu tranh chính trị và binh vận của nhân dân diễn ra sôi nổi ở các quận Tân Uyên, Bến Cát, Lái Thiêu, Phú Giáo, Thủ Dầu Một. Quần chúng ở thành thị lẫn nông thôn và công nhân cao su, đều tích cực tham gia đấu tranh chính trị, chống bắt xâu, bắt lính, đòi bồi thường thiệt hại về tài sản và hoa màu do bom pháo và các cuộc càn quét của địch gây ra. Trong đó, có nhiều cuộc đấu tranh chính trị có quy mô lớn mà lực lượng chính là chị em phụ nữ với sự tham gia của đông đảo nữ thanh niên : cuộc đấu tranh của hàng ngàn chị em quận Bến cát kéo ra quận lỵ biểu tình đòi chống bắn pháo vào xóm ấp, chống xe tăng ủi phá hoại hoa màu (tháng 4/ 1961); cuộc đấu tranh của 6.000 phụ nữ Bến Cát và hàng ngàn cụ ông kéo đến dinh Tỉnh trưởng đấu tranh chống bắn pháo, chống gom dân, lập ấp chiến lược (tháng 4/1961)… Ở nhiều xã ấp, phối hợp với hoạt động quân sự của bộ đội và du kích, quần chúng nổi dậy đốt trụ sở tề, diệt ác, phá kềm, mở rộng vùng giải phóng…

Đấu tranh chính trị cũng diễn ra sôi nổi trong học sinh và thanh niên đô thị. Năm 1961, Tỉnh Đoàn đẩy mạnh việc lựa chọn trong học sinh những thanh niên cốt cán đã được giáo dục và thử thách đang học tại các trường trung học ở thị xã Thủ Dầu Một, thị xã Lái Thiêu, thị trấn Dĩ An… kết nạp vào Hội Liên hiệp thanh niên giải phóng hoặc Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng. Các đoàn viên, hội viên này hoạt động bí mật, tổ chức ra các nhóm công khai hợp pháp (tổ chức hiệu đoàn, các nhóm học tập, thể thao, văn nghệ…), qua đó lãnh đạo thanh niên học sinh đấu tranh chống các chính sách phản động của chính quyền Mỹ – ngụy thực thi trong trường học. Trường trung học Trịnh Hoài Đức (Lái Thiêu) là một trong những nơi học sinh có phong trào đấu tranh mạnh nhất. Trong buổi lễ khánh thành phòng thí nghiệm của trường (ngày 27/9/62), học sinh Đỗ Văn Mỹ ném lựu đạn cay vào các quan chức dự lễ làm cho địch hết sức hoang mang, đồng thời tạo được tiếng vang trong dư luận quần chúng. Từ năm 1958 – 1961, chị Nguyễn Thị Thu Vân ( học sinh trường trung học tư thục Trí Đức) đã tổ chức được 4 tổ thanh niên yêu nước ở  2 trường trung học tư thục Trí Đức và Văn An ( mỗi tổ từ 3 đến 5 người). Các tổ thanh niên yêu nước dùng nhiều hình thức tuyên truyền như rỉ tai nhau, rải truyền đơn, dán khẩu hiệu nhằm tổ chức những hoạt động đấu tranh phản đối tăng học phí, phản đối chính sách quân sự hóa học đường ( bắt học sinh học quân sự và vô các tổ chức bán quân sự), đòi tạo điều kiện cho học sinh đi học dễ dàng và tự do. Năm 1961, chị Vân bị lộ, phải chuyển vùng hoạt động.Trước khi rời trường, theo sự chỉ đạo của cán bộ Đoàn phụ trách phong trào học sinh đô thị[1], chị đã viết lời kêu gọi và những yêu sách thể hiện tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm của thanh niên vào bài thi của mình. Từ năm 1963, chị Vân được Tỉnh đoàn phân công về trường Trung học Bến Súc (xã Thanh Tuyền), tiếp tục xây dựng và phát triển cơ sở Đoàn trong học sinh  ở đây.

Tổ chức và hoạt động của thanh niên, học sinh ở các thị xã, thị trấn đã góp phần làm cho tình hình an ninh chính trị của chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng thường xuyên không ổn định, lôi kéo sự chú ý của dư luận toàn dân, góp phần nung nấu ý chí và tinh thần cách mạng trong thanh niên, học sinh đô thị, làm cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trên toàn tỉnh thêm phần sôi nổi và phong phú hơn.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Tỉnh Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Thủ Dầu Một, đoàn viên, thanh niên ở cả ba vùng chiến lược trên toàn tỉnh đã đem hết năng lực, tinh thần cách mạng và nhiệt huyết của tuổi trẻ cống hiến cho Tổ quốc, góp phần cùng quân dân tỉnh nhà và quân dân cả nước đánh bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

III. ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN BÌNH DƯƠNG TÍCH CỰC THAM GIA PHONG TRÀO “5 XUNG PHONG” ĐÁNH MỸ TRONG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA MỸ – NGỤY  (1965 – 1968)

Thanh niên Bình Dương tích cực hưởng ứng phong trào “thanh niên 5 xung phong” chống Mỹ
Năm 1965, trước sự phá sản của chiến lược “ chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện  chiến lược “chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào Miền Nam Việt Nam, nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa.

Trong khi đó, từ ngày 17 đến ngày 26/3/1965, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đại hội Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Việt Nam lần thứ I được tổ chức tại chiến khu R, căn cứ của Trung ương cục, thuộc tỉnh Tây Ninh. Nhằm phát huy tối đa tinh thần và trí tuệ của tuổi trẻ cả nước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại hội đã phát động phong trào thanh niên “ 5 xung phong” chống Mỹ :

Xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch.
Xung phong tòng quân và tham gia phong trào du kích chiến tranh.
Xung phong đi dân công và thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.
Xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính.
Xung phong sản xuất nông nghiệp.
Hưởng ứng phong trào do Đại hội Đoàn phát động, Tỉnh Đoàn đã tích cực hoạt động đưa tổ chức Đoàn, Hộâi và phong trào thanh thiếu niên Thủ Dầu Một phát triển lên một bước mới. Về số lượng, năm cao nhất trong toàn tỉnh có tới 3000 đoàn viên; ở các xã vùng địch tạm chiếm, ở thị trấn, trường học ta  cũng tổ chức được 670 đoàn viên mật.

Ngày 20/7/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào Miền Bắc và đồng bào Miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”[1]. Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Bác và được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh Đoàn, tuổi trẻ Thủ Dầu Một hưởng ứng mạnh mẽ phong trào “5 xung phong” với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ngay trong những tháng đầu của chiến lược “chiến tranh cục bộ”, tuổi trẻ Thủ Dầu Một đã cùng quân dân toàn tỉnh lập nên nhiều chiến công vang dội: bẻ gãy và tiêu hao, tiêu diệt nặng các đơn vị lính Mỹ, lính ngụytrong các cuộc càn quét quy mô lớn và dài ngày vào 3 xã tây nam Bến Cát ( từ 8/ 10 đến 15/ 10/ 1965) , vào chiến khu Thuận An Hòa và khu vực xung quanh Lái Thiêu, Dĩ An  (bắt đầu từ 20/ 10/ 1965 và kéo dài hai tháng); đánh thiệt hại nặng quân Mỹ – ngụy trong các trận Đất Cuốc (8/ 11/ 65), trận Bàu Bàng (11/ 11/ 65), Dầu Tiếng (5/ 12/ 1965), trận Bông Trang-Lò Gạch (25/8/1966)… Sôi nổi nhất là phong trào xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Thanh niên ở tất cả các lực lượng vũ trang trên toàn tỉnh đã mưu trí, sáng tạo ra nhiều cách đánh địch để giành danh hiệu “dũng sĩ”[1]. Anh Từ Văn Phước, 26 tuổi, dũng sĩ diệt Mỹ của tỉnh Thủ Dầu Một, trong 13 tháng chiến đấu sát nách địch (quận Lái Thiêu) đã tiêu diệt được 71 tên Mỹ, 17 lính Nam Triều Tiên  và 45 lính ngụy. Anh Thái Văn Cung, du kích Vĩnh Trường được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” đầu tiên của huyện Châu Thành. Các đơn vị vũ trang tập trung của tỉnh : C 61, C 62, C 63, Tiểu đoàn Phú Lợi có hàng trăm chiến sĩ được tặng danh hiệu “dũng sĩ” diệt Mỹ hoặc diệt ngụy, bắn máy bay, xe tăng địch. Nhiều anh hùng lực lượng vũ trang  như Hoàng Trọng Lập, Đoàn Văn Thái, Nguyễn Văn Bé đều  là những đoàn viên, thanh niên “dũng sĩ” trong các đơn vị trên. Anh Đực, du kích xã Phú An, dùng 10 viên đạn cạc- bin bắn chết 9 tên lính địch, 3 lần được nhận danh hiệu “dũng sĩ diệt ngụy”; Anh Mỏi, du kích xã An Điền, dùng mìn diệt gần 1 đại đội lính Mỹ đi càn ở ngả ba Chú Lường, được nhận danh hiệu “ dũng sĩ diệt Mỹ” cấp ưu tú. Nguyễn Văn Lên, chiến sĩ đặc công quận Tân Uyên, 2 ngày liền chống chọi với 1 tiểu đoàn địch, diệt hàng trăm tên Mỹ. Em Hồ Văn Mên, 13 tuổi đã mưu trí đánh diệt nhiều sinh lực địch. Tháng 3/1966, sau những ngày theo dõi quy luật đi lại của địch, chỉ bằng 1 quả mìn, Mên đã diệt 1 xe hơi của Mỹ, giết chết 1 thiếu tá và 2 lính Mỹ. Mười ngày sau Mên cùng bạn là Tiên dùng lựu đạn diệt một lúc 59 tên lính ngụy thuộc trung đoàn 8, sư đoàn 5 của ngụy. Em được bầu là chiến sĩ thi đua toàn Miền Nam, được tặng huân chương giải phóng hạng 2[1]õ… Thời kỳ này, Tỉnh Đoàn còn tổ chức và chịu trách nhiệm phụ trách đội biệt động thanh niên K 13 ở thị xã Lái Thiêu. Đội K13 từng là nỗi lo sợ của binh lính địch với tất cả 29 trận đánh và nhiều tấm gương hy sinh, nhiều chiến công lớn : trận đánh thuốc nổ vào nhà việc Phú Cường , giết 8 tên địch do nữ biệt động Thùy Linh thực hiện; trận đốt cháy kho xăng công chánh do nữ biệt động Hai Hậu thực hiện… Đội nữ pháo binh Bến Cát cơ động đánh địch khắp nơi, được tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Chỉ tính riêng năm 1966, tất cả đoàn viên và thanh niên Bình Dương đều vượt chỉ tiêu tiêu diệt Mỹ. Với lòng yêu nước và nhiệt huyết của tuổi trẻ, lại được Đảng và tổ chức Đoàn giáo dục, động viên, thời kỳ này, đi đến đâu cũng nghe thấy thanh niên bàn cách diệt địch để giành danh hiệu “dũng sĩ”. Vì cứ trong một trận đánh, người nào diệt được 3 Mỹ hoặc 3 ngụy thì được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” hoặc “dũng sĩ diệt ngụy”, cho nên có đơn vị, anh nào diệt được nhiều Mỹ – ngụy còn cho anh thiếu “mượn” để bù vào cho đủ, trận sau “trả lại”, để cả đơn vị ai cũng được là dũng sĩ. Đó là một trong những biểu hiện của lòng quyết tâm và tinh thần vui vẻ, lạc quan của tuổi trẻ Bình Dương thời kỳ đánh Mỹ.

Thanh niên Bình Dương, kể cả vùng giải phóng lẫn vùng địch tạm chiếm đều tích cực hưởng ứng Phong trào xung phong tòng quân và tham gia du kích chiến tranh. Huyện Tân Uyên, thanh thiếu niên 14-15 tuổi cũng xung phong vào du kích. Nhiều thanh niên, học sinh  ở  thị xã, thị trấn vùng địch tạm chiếm cũng tìm cách vào vùng giải phóng gia nhập các lực lượng vũ trang. Chỉ tính trong năm 1965, toàn tỉnh có hơn 1.000 thanh niên tòng quân. Nhờ đó, quân số của các thứ quân cũng như số cán bộ các cơ quan ban ngành trong tỉnh thường xuyên được bổ sung kịp thời, đầy đủ sau từng chiến dịch, từng trận đánh lớn.

Phong trào xung phong đi dân công và xung phong phục vụ hỏa tuyến cũng được thanh niên Bình Dương hưởng ứng sôi nổi. Đặc biệt, trong những trận đánh, những chiến dịch lớn như trong cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), chiến dịch Quang Trung (1972), tuổi trẻ Bình Dương không ngại gian khổ, tình nguyện đi dân công, làm các nhiệm vụ tải lương thực, vũ khí phục vụ chiến dịch, chuyển thương binh về tuyến sau…  Kể cả thanh niên là nhân viên trong các cơ quan tỉnh, huyện cũng được huy động để kịp thời phục vụ cho mặt trận. Trong phong trào này, thanh niên Bình Dương có những đóng góp to lớn cho chiến trường và đã ghi lại nhiều tấm gương anh dũng và cảm động.

Năm 1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam giao cho  Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng thành lập lực lượng thanh niên xung phong giải phóng Miền Nam để phục vụ cho các đơn vị chủ lực trong các trận chiến đấu chống Mỹ – ngụy trên chiến trường tại chỗ. Hàng ngàn thanh niên Miền Nam  hăng hái tình nguyện tham gia thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến (trong đó có 2/3 quân số là nữ). Thủ Dầu Một được giao thành lập 1 đại đội. Chỉ trong một thời gian ngắn, Tỉnh Đoàn đã vận động được 120 thanh niên thoát ly gia đình, gia nhập đội thanh niên xung phong tập trung ( trong đó có một nửa là đoàn viên). Đơn vị được mang tên đại đội Phú Lợi, trực thuộc Tổng đội Thanh niên xung phong giải phóng Miền Nam. Các anh chị thanh niên xung phong không ngại hy sinh, gian khổ phục vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men, chuyển thương binh trước và sau trận chiến cho các Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, Sư đoàn 5. Nổi bật nhất là tấm gương hy sinh của cô Đoàn Thị Liên, quê ở xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, là đoàn viên Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, phân đội trưởng một phân đội thanh niên xung phong gồm toàn nữ thuộc đại đội Phú Lợi, Liên đội 7. Với cương vị phân đội trưởng, Liên luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi  cho đồng đội, hết lòng thương yêu và có trách nhiệm với thương binh. Từ năm 1965 – 1966, đơn vị của Liên đã phục vụ 12 trận chiến đấu của quân ta với quân chủ lực Mỹ – ngụy. Nhiều lần, Liên cùng đồng đội dũng cảm xông ra trận địa khi cuộc chiến còn đang ác liệt để kịp thời chuyển thương binh về tuyến sau cứu chữa và lấy thi hài liệt sĩ về chôn cất. Sau mỗi trận chiến đấu, Liên và đồng đội lại cõng thương binh vượt hàng mấy chục cây số về trạm xá để an dưỡng. Có lần, đơn vị Liên bị phục kích, Liên dũng cảm chiến đấu tiêu diệt địch. Sau trận đó, Liên vinh dự được nhận danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”. Đoàn Thị Liên trở thành tấm gương và là nguồn động viên lớn cho toàn đơn vị vượt mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Tháng 6/1966, trong một trận chiến đấu của Sư đoàn 9 với một trung đoàn chủ lực Mỹ-ngụy ở cầu Cần Lê, phân đội của Đoàn Thị Liên đang làm nhiệm vụ vận chuyển, cứu chữa thương binh ở tuyến sau ngay gần trận địa, bỗng pháo địch nã vào đội hình phân đội của Liên không ngớt. Giữa khói đạn mịt mù, Liên xông xáo động viên chị em đưa thương binh xuống hầm, nhường hầm cho thương binh trú ẩn. Nhìn thương binh bê bết máu, Liên vừa lấy thân mình che chở cho thương binh khi một loạt pháo địch bắn đuổi theo, vừa kêu gọi chị em “ Thà hy sinh chớ không để cho thương binh bị thương lần thứ hai”[1]. Sau loạt pháo đó, Đoàn Thị Liên đã hy sinh. Hành động  dũng cảm của chị đã trở thành tấm gương sáng, được Trung ương Đoàn phát động cho lực lượng thanh niên xung phong giải phóng Miền Nam học tập và noi theo. Câu  nói cuối cùng của chị trở thành khẩu hiệu cao cả của lực lượng thanh niên xung phong thời chống Mỹ.

Từ năm 1967, Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một cũng thành lập và trực tiếp phụ trách một đại đội thanh niên xung phong của tỉnh. Đại đội này đã đóng góp rất nhiều công sức trong các trận chiến đấu của bộ đội địa phương tỉnh, nhất là trong chiến dịch Mậu Thân 1968 và những năm chiến tranh ác liệt từ 1969 đến 1971.

Để bảo vệ vùng giải phóng, phong trào làm hầm hố chông, vót chông tre, đào địa đạo, xây dựng xã, ấp chiến đấu được thanh niên tham gia rất tích cực. Địa đạo nối liền 3 xã  tây nam Bến Cát (Phú An, An Tây, An Điền) dài mấy chục cây số giúp cho bộ đội và du kích ta cơ động, bất ngờ và có thể bám trụ dài ngày đối phó với các cuộc càn quét lớn trong cuộc hành quân Xê-đa-phôn năm 1967 và nhiều cuộc càn quét khác của địch.

Tại đô thị và các vùng địch tạm chiếm, thanh niên tham gia phong trào đấu tranh chính trị chống địch đi càn quét, phá vườn tược, đòi bồi thường thiệt hại do bom pháo phá hoại, đòi về nhà cũ làm ăn không chịu sống trong ấp chiến lược, chống địch bắt vào phòng vệ dân sự, chống bắt lính. Trong trường học, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận dân tộc giải  phóng tỉnh, Hội Nhà giáo yêu nước tỉnh Thủ Dầu Một ra đời. Lúc bấy giờ, lực lượng nòng cốt của Hội gồm có các nhà giáo tiến bộ, cảm tình Đảng  làm nòng cốt như các thầy: Đỗ Văn Của, Phạm Thế Hà, Nguyễn Thành Đông, Nguyễn Xuân Vinh, Võ Văn Nhân, Hai Việt, Tạ Thị Cúc, thầy giáo Sang…  Hoạt động  của Hội Nhà giáo yêu nước tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh của tầng lớp trí thức, giáo viên và học sinh. Ở trường trung học Trịnh Hoài Đức, trường bán công Dầu Tiếng, học sinh đồng lòng bỏ học để đấu tranh chống quân sự hóa học đường, chống chủ trương bắt học sinh học tố cộng, chống văn hóa đồi trụy, phản động. Tại trường Trịnh Hoài Đức, tổ chức mật của ta đã gài mìn giết chết 2 sĩ quan Đại Hàn. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968, trường Trịnh Hoài Đức là một trong những điểm tập kết đóng quân của quân giải phóng[1]. Ngoài ra, Hội Nhà giáo yêu nước còn  đưa lực lượng xuống Sài Gòn tham gia vào “những đêm không ngủ” do Tổng hội sinh viên, học sinh Sài Gòn tổ chức.

Với những thành tích nổi bật trong hoạt động, năm 1966, phong trào thanh thiếu niên Thủ Dầu Một được Khu Đoàn, Trung ương Đoàn và Ủy ban TW Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam tặng nhiều bằng khen, huân chương[1]. Những đóng góp tích cực của đoàn viên, thanh niên trong các mũi đấu tranh quân sự, chính trị nói trên đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân Thủ Dầu Một và nhân dân cả nước đánh bại hoàn toàn hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 của Mỹ – ngụy, mở ra những khả năng mới cho phép đánh bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của địch.

Đoàn viên, thanh niên Bình Dương phát huy vai trò xung kích trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 68
Trên chiến trường Miền Nam, sau thất bại nặng nề trong 2 cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai bị đẩy vào thế phòng ngự chiến lược. Trước thời cơ mới, tháng 1/ 1968, TW Đảng tiến hành Hội nghị BCH TW lần thứ 14, quyết định mở một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa trên toàn Miền Nam, tiến công đồng loạt vào các thành phố, thị xã, thị trấn để giành thắng lợi quyết định.

Thực hiện Nghị quyết 14 của TW Đảng, TWC và Quân ủy Miền tiến hành sắp xếp, bố trí lại chiến trường. Theo đó, Phân liên khu Miền Đông Nam bộ được giải thể và tổ chức lại thành 5 phân khu xung quanh Sài Gòn, nhằm chuẩn bị các mũi tiến công vào cơ quan đầu não của Mỹ – ngụy ở Miền Nam. Phần lớn các địa bàn của tỉnh Thủ Dầu Một thuộc về Phân khu 5; một phần của huyện Dầu Tiếng và Bến Cát nằm trong Phân khu 1. Những tháng cuối năm 1967, các Phân khu khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân – Xuân 68.

Dưới sự chỉ đạo của các Ban chấp hành các Phân khu 1 và 5, nhân dân các địa phương thuộc tỉnh Thủ Dầu Một hăng hái tham gia công tác hậu cần phục vụ chiến dịch. Các đội thanh niên xung phong, các đơn vị hậu cần cùng với hàng ngàn dân công ( mà đông đảo và tích cực nhất là lực lượng nữ thanh niên) và anh em cán bộ, nhân viên các cơ quan, đơn vị không quản ngày đêm, vượt suối băng rừng để vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men… từ các kho hậu cần về các căn cứ ở vùng ven và các vị trí tập kết trên đường tiến quân, quyết tâm đưa gạo, vũ khí và hàng hóa ra tiền tuyến an toàn và đúng lúc, kịp thời phục vụ chiến dịch. Đến tháng 1/1968, trên địa bàn Phân khu 5, ta đã có 1500 tấn lương thực, 750 tấn vũ khí, đạn dược được bố trí trong các kho ở chiến khu Đ  và cất giấu rải rác trong dân[1].

Về lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu, Phân khu 5 có trung đoàn Đồng Nai mới thành lập[1]  cùng với các đơn vị bộ đội địa phương và các đội du kích xã. Mỗi huyện, thị đều có 1 đại đội bộ đội địa phương, riêng thị xã Thủ Dầu Một có thêm đội Biệt động; các huyện Lái Thiêu, Châu Thành, Tân Uyên có thêm đội nữ pháo binh. Ngoài ra, Phân khu cũng tích cực sắp xếp lại lực lượng chính trị, chuẩn bị phương án cho mũi nổi dậy của quần chúng: phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức đảng, rà soát lại hệ thống tổ chức cơ sở của các đoàn thể quần chúng để phân công phối hợp hành động; các địa phương đều lên kế hoạch cụ thể, xác định trọng điểm, mục tiêu và phương án tác chiến của địa phương mình. Về lực lượng chính trị, bước vào chiến dịch, toàn tỉnh có gần 10.000 hội viên các đoàn thể quần chúng, trong đó có 900 đoàn viên thanh niên ở cơ sở.

Đúng 0 giờ ngày 31/ 1/ 68 (đêm mồng 2 Tết Mậu Thân), quân và dân Phân khu 5 đồng loạt nổ súng tiến công và nổi dậy trên toàn Phân khu. Thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền, ở hướng tiến công vào nội đô Sài Gòn, Tiểu đoàn 3 Dĩ An tiến công chi khu cảnh sát Hàng Xanh, làm chủ khu vực Hàng Xanh lúc 2 giờ sáng. Tiểu đoàn 3 tiếp tục chiến đấu anh dũng giữ vững trận địa khu phố Hàng Xanh suốt 20 giờ, loại vòng chiến đấu tiểu đoàn 30 biệt động quân của địch. Tiểu đoàn 1 có nhiệm vụ chiếm giữ cầu Bình Lợi, chờ Sư đoàn 7 vào để tiếp ứng cho lực lượng nội thành Sài Gòn. Ở đây, chiến sĩ ta đã kiên cường chiến đấu suốt ngày đánh trả lại sự phản công quyết liệt của lực lượng thủy quân lục chiến của địch.

Tại thị xã Thủ Dầu Một, lực lượng vũ trang ta đột nhập Thành công binh, Tòa hành chính tỉnh, Dinh tỉnh trưởng, Ty cảnh sát. Đồng thời, ở vùng ngoại ô và vùng nông thôn, các đơn vị bộ đội địa phương và du kích các xã tấn công, bao vây, bức rút một số đồn bót lẻ và các chốt đóng quân của địch : bức rút tua Uùp Nồi, đánh  thiệt hại nặng các bót Bến Thế, Bưng Cầu, Cây Điệp, Phú Hữu, Sở Sao…

Ở Tân Uyên, Bến Cát, Lái Thiêu, Dĩ An, Dầu Tiếng, bộ đội địa phương và dân quân du kích đồng loạt tấn công các chi khu quân sự, dinh quận, các căn cứ đóng quân  và một số đồn bót của địch. Đồng thời, ở nhiều xã, ấp nhân dân  nổi dậy đánh thùng, gõ mõ uy hiếp tinh thần binh lính ngụy, vận động lính ngụy bỏ ngũ; một số nơi, nhân dân bỏ ấp chiến lược về xóm cũ… Đợt tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta đã gây cho địch nhiều tổn thất về lực lượng[1], suy sụp về tâm lý, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 ra Bắc và chấp nhận mở đàm phán 4 bên với ta tại Paris. Tuy nhiên, ta cũng bị tổn thất lớn về lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang. Sau đợt 1, ta tiếp tục vận động thanh niên tòng quân vào các đơn vị chiến đấu. Bộ đội địa phương các huyện rút thanh niên, du kích xã ấp lên bổ sung quân số để bảo đảm mỗi đại đội có ít nhất từ 50 đến 60 chiến sĩ.  Từ tháng 3/ 1968, ta tổ chức thêm các đợt đệm. Tuy yếu tố bất ngờ không còn, nhưng ở một số nơi, ta cũng gây cho địch những thiệt hại đáng kể, tiêu diệt thêm nhiều sinh lực địch, đồng thời bám trụ vùng ven hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược, chống địch hành quân càn quét, khủng bố. Nhân dân vùng ven và du kích các xã nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ ở nhiều nơi. Ở thị xã, thị trấn, nhân dân đấu tranh chính trị đòi quyền dân sinh, dân chủ, tố cáo tội ác của Mỹ – ngụy, vận động binh lính ngụy đào, rã ngũ.

Cuộc tổng tiến công chiến lược Xuân hè 68 tiến hành trong điều kiện thực lực quân sự của địch còn mạnh, vì vậy, lực lượng ta bị tổn thất khá lớn và không đạt được các mục tiêu, yêu cầu rất cao đề ra ban đầu. Tuy nhiên, ta cũng tiêu hao, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, làm thất bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ.  Qua các đợt tiến công, tuổi trẻ Thủ Dầu Một đã thể hiện cao độ chủ nghĩa yêu nước và ý chí cách mạng, góp phần cùng toàn dân giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai, buộc Mỹ bị động chuyển hướng chiến lược, đưa cách mạng Miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ cả nước đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.

 

ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH THIẾU NIÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN CẢ NƯỚC ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ (1969 – 1975)
Đoàn viên, thanhniên kiên cường khắc phục khó khăn, tích cực chiến đấu bảo vệ căn cứ địa, khôi phục cơ sở và phong trào cách mạng (1969-1970)
Bằng  cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, quân dân Miền Nam đã bẻ gãy chiến lược “ chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Để thực hiện âm mưu mới, địch tiến hành kế hoạch “quét và giữ”, mà trọng tâm là “quét” với các chương trình bình định nhằm tiêu diệt căn cứ và lực lượng cách mạng, đồng thời gom dân vào các ấp chiến lược hoặc các khu tập trung quanh đồn bót, hòng  tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân để dễ bề tiêu diệt.

Trên địa bàn Thủ Dầu Một [1], địch đánh phá ác liệt vùng giải phóng và vùng tranh chấp, triệt phá địa hình, khống chế các đường giao thông bằng hệ thống tua, bót dày đặc, kết hợp với bình định, gom dân và chính sách bao vây, bóp nghẹt kinh tế kháng chiến, làm cho lực lượng cách mạng lâm vào tình thế cực kỳ khó khăn: lực lượng vũ trang bị tổn thất chưa kịp bổ sung quân số; mất đất, mất dân, cán bộ chủ chốt tỉnh, huyện không bám trụ được trong dân, phải lùi sâu vào các căn cứ trong rừng; lực lượng cán bộ các đoàn thể quần chúng ở cơ sở, kể cả cán bộ Đoàn thanh niên cũng bị hy sinh, mất mát khá lớn; số còn lại bị lộ, phải thoát ly khỏi địa bàn, nhiều nơi  không còn đoàn viên và tổ chức đoàn cơ sở; các căn cứ trong rừng bị phong tỏa, vấn đề lương thực, thực phẩm, thuốc men càng khó khăn hơn bao giờ hết. Nhiều nơi, cán bộ, chiến sĩ nương náu trong các lõm rừng chồi bị đói trầm trọng, lại không thể đi lại hoạt động để trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng. Trong tình hình căng thẳng đó, thanh niên trong các đơn vị an ninh vũ trang  đã cùng đồng đội đào hầm bí mật, kiên cường bám trụ trong các khu tập trung dân cư ngay sát đồn địch, hoặc trong nội ô các thị xã, thị trấn để diệt ác, trừ gian, từng bước phá thế kềm kẹp cho dân trong các ấp chiến lược, gây dựng lại cơ sở cách mạng, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch ngay tại sào huyệt của chúng ( như ở các vùng trắng không còn cơ sở cách mạng thuộc các quận Châu Thành, DầuTiếng, Bến Cát, thị xã Thủ Dầu Một.). Tại Châu Thành, Tân Uyên, Phú Giáo,  các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và du kích xã mà đông đảo nhất là đoàn viên, thanh niên, đã tích cực hoạt động chống bình định, trừ gian, diệt tề, mở các đợt vũ trang tuyên truyền, vận động thanh niên tòng quân để bổ sung nhanh quân số. Ở Thanh An, Thanh Tuyền (Bến Cát), thanh niên trong các đội tự vệ mật tổ chức diệt ác, treo bản án cho các gia đình do thám, liên gia trưởng, trưởng ấp để phá lỏng bộ máy kềm của địch, mở thế làm chủ cho dân. Đặc biệt, Thanh An là một trong những xã bị địch bao vây, chia cắt ác liệt nhất. Ở đây, chi đoàn thanh niên gồm trên 25 đoàn viên nữ, dựa vào thế hợp pháp, đã giữ vai trò nòng cốt, lãnh đạo quần chúng đấu tranh diệt ác, trừ gian kết hợp với các mũi chính trị, binh vận để phá lỏng thế kềm của địch. Ở nhiều xã thuộc Bến Cát, trước đây là vùng tự do, chưa có đồn bót địch, các em thiếu niên đã từng được các anh chị đoàn viên hướng dẫn, giáo dục điều hay, lẽ phải. Nay bị gom dân vào ấp chiến lược, chứng kiến những hành vi tàn ác của bọn lính  đối với nhân dân và cán bộ cách mạng, các em  cũng tha thiết muốn được góp sức mình diệt ác. Tại ấp chiến lược Chánh Lưu (xã Chánh Phú Hòa – Bến Cát), hai em Giao và Thạch[1] đã giúp các anh du kích theo dõi hoạt động đi lại của bọn lính địch và của tên trưởng ấp ác ôn, giúp các anh tổ chức tiêu diệt chúng. Hai em còn dùng lựu đạn (do các anh du kích giao cho) diệt được 2 tên cán bộ bình định Tháng 2/ 1969, TWC  chỉ đạo cho tất cả các địa phương mở một đợt tiến công  trên khắp 3 vùng nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phá thế  bao vây, kềm kẹp của địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thanh niên trong các lực lượng vũ trang tại Thủ Dầu Một đã cùng đồng đội khắc phục khó khăn, tiến công đánh phá các cuộc hành quân càn quét, bình định, phản kích của địch để bảo vệ căn cứ địa, bảo tồn lực lượng cách mạng và tiêu hao, tiêu diệt địch với những thắng lợi nổi bật như : cuộc tiến công vào hậu cứ lữ đoàn 3, sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” của Mỹ tại Dầu Tiếng, trận tập kích cụm quân Mỹ ở Bến Tranh diệt gần 1.000 tên địch, những trận chiến đấu bẻ gãy cuộc hành quân càn quét mang tên “Aùt-lát” của Mỹ – ngụy vào khu vực Dầu Tiếng và hàng trăm cuộc tấn công , phục kích địch đi càn ở các huyện Tân Uyên, Châu Thành, Lái Thiêu, Dĩ An, Bến Cát. Ngay tại thị xã Thủ Dầu Một, chỉ tính từ 23/ 2 đến 18/3/1969, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã đánh cả thảy 16 trận lớn nhỏ, diệt hàng trăm tên bảo an, dân vệ, cán bộ bình định, giải tán lực lượng phòng vệ dân sự.

Trong các cơ quan ban, ngành và đoàn thể cấp tỉnh, huyện, đoàn viên, thanh niên tích cực tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm; anh chị em thanh niên tích cực  xung phong vào các tổ vận tải, vào ấp chiến lược tải gạo và vũ khí, đạn dược, thuốc men ra căn cứ, dù biết rằng có thể hy sinh bất cứ lúc nào giữa bom, mìn và những máy dò tiếng động của địch được cài dày đặc trên các tuyến đường giao liên, vận chuyển. Tuổi trẻ trong các lực lượng vũ trang, trong các cơ quan, trong đó có cơ quan Phân Khu Đoàn 5, luôn giành phần khó khăn, gian khổ, ăn củ mài, củ chụp, măng rừng thay cơm để nhường gạo nấu cháo cho thương, bệnh binh. Anh chị em du kích và tự vệ các cơ quan cũng thường xuyên tranh thủ phá rào ấp chiến lược, tìm bom pháo lép tận dụng nguyên liệu để sửa chữa, tự tạo vũ khí và sử dụng sáng tạo mọi thứ vũ khí, mọi cách đánh để tiêu diệt địch. Còn ở các đồn điền cao su (như đồn điền Dầu Tiếng), nhiều đoàn viên và thanh niên cốt cán trong công nhân hằng ngày ra lô làm việc đã lén mang theo phần cơm trưa của mình để nuôi bộ đội địa phương và cơ quan huyện đội, bất chấp những nguy hiểm đang rình rập, vì nếu bị bọn do thám biết được là có thể bị đánh đập, bỏ tù, cúp lương, đuổi việc… Anh Trọng, một thanh niên công nhân, thường xuyên đi tìm pháo lép của địch trong rừng cao su đem về cải tạo lại. Bằng thứ vũ khí tự tạo đó, anh đã bí mật, lần lượt đánh tan xác 6 xe tăng địch trong vườn cao su. Với thành tích và tinh thần yêu nước và cách mạng của tuổi trẻ, anh Trọng đã được đề bạt Huyện đội phó của Dầu Tiếng, được Bộ Tư lệnh Miền Nam phong tặng danh hiệu cao quý: anh hùng lực lượng vũ trang. Nhưng đâu chỉ có vậy, hãy còn, còn bao nhiêu nữa những đoàn viên, thanh niên dũng cảm của miền đất Thủ, đã thầm lặng góp sức mình đưa cuộc kháng chiến tại chỗ và trên toàn Miền Nam bước ra khỏi thời kỳ gian nguy nhất!

Đại hội lần thứ II Phân khu Đoàn V (Bình Dương) và quyết tâm củng cố lại tổ chức Đoàn cơ sở
Tháng 3/1971, đươcï sự chỉ đạo của Thường vụ Phân khu ủy, Phân khu Đoàn 5 mở Đại hội đại biểu Phân khu Đoàn lần thứ II tại Suối Cái, chiến khu Đ, với sự tham dự của 47 đại biểu Đoàn các huyện, các cơ quan và các đơn vị lực lượng vũ trang. Đại hội nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác Đoàn thời kỳ này là tiếp tục ra sức xây dựng, củng cố lại tổ chức Đoàn cơ sở. Sau Đại hội, các đại biểu tham dự đều viết “quyết tâm thư”, hứa với Phân khu Đoàn và Khu ủy quyết tâm phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mà Đại hội đã vạch ra.

Sau 1 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Phân khu Đoàn lần thứ II, đồng thời, được sự chỉ đạo trực tiếp của các Đảng bộ địa phương, tình hình tổ chức cơ sở Đoàn dần dần được khôi phục và phát triển. Các huyện Đoàn, tuy trong cảnh thiếu đói vẫn thường xuyên cử cán bộ về các xã, ấp vùng địch tạm chiếm, tìm mọi cách móc nối, gây dựng lại cơ sở mật, gặp gỡ thanh niên để tuyên truyền, vận động anh em chống các âm mưu của địch, vận động thanh niên tòng quân. Vì vậy, chỉ sau một thời gian ngắn,  ta đã xây dựng lại các chi đoàn mật, có nơi vừa có chi đoàn mật, vừa có chi đoàn lộ, hoạt động hợp pháp. Các đoàn viên mật phát huy tích cực vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và củng cố tổ chức Đoàn cơ sở. Số ấp “trắng “ được thu hẹp dần. Các huyện Bến Cát, Châu Thành, Tân Uyên, vùng giải phóng được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và hoạt động Đoàn phát triển rộng rãi và mạnh mẽ. Ở những nơi  tổ chức Đoàn đã được củng cố, đứng vững trên  địa bàn cơ sở, cán bộ Đoàn và đoàn viên còn tranh thủ vận động thanh niên tham gia  kháng chiến, chống bắt lính, trốn đi lính địch;  vận động, giúp đỡ  binh sĩ đào ngũ và  thanh niên trốn lính.

Thời kỳ này, Tỉnh Đoàn cũng rất chú trọng tới công tác phát triển Đoàn trong thanh niên, học sinh vùng địch tạm chiếm. Một số học sinh ở trường Trung học Phú Mỹ (Bến Cát), trường Trung học tư thục Bồ Đề (Chợ Thủ) được các cán bộ Tỉnh Đoàn xây dựng thành cơ sở mật để theo dõi bọn CIA đội lốt giám thị trong trường, đồng thời để phát triển cơ sở đoàn và thúc đẩy hoạt động yêu nước, chống Mỹ trong thanh niên, học sinh đô thị. Đến tháng 11/ 1972, nhóm các thanh niên nòng cốt ở các trường trong thị xã Thủ Dầu Một được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, thành lập chi đoàn với mật danh K5, do Tỉnh Đoàn và Bí thư Thị uỷ Thủ Dầu Một trực tiếp chỉ mạngtheo nguyên tắc  mật và đơn tuyến. Lúc đầu, chi đoàn gồm 3 đoàn viên: anh Nguyễn Minh Giao, anh Đỗ Văn Đức (Cưỡng nhỏ) và chị Mười Nhung. Ba tháng sau, anh Ninh Quốc Bình cũng được kết nạp vào chi đoàn. Từ các hạt nhân này, phong trào thanh niên, học sinh  ở Thủ Dầu Một ngày càng phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức hoạt động phong phú, tích cực góp phần  vào mũi đấu tranh chính trị sôi động của quần chúng nhân dân trong thị xã và trên toàn tỉnh.

Đại hội Tỉnh Đoàn lần thứ III. Phong trào thanh niên “3 xung phong giành, giữ hòa bình”
Trong  cuộc tổng tiến công chiến lược Xuân – hè  1972, tuổi trẻ Bình Dương đã cùng nhân dân trong tỉnh kết hợp 3 mũi đấu tranh chống bình định, phá banh, phá rã nhiều ấp chiến lược, tạo điều kiện cho nhân dân bung về vùng giải phóng làm ăn, mở thông các đường hành lang chiến lược nối liền với vùng giải phóng rộng lớn Lộc Ninh. Cuối năm 1972, các Phân khu được giải thể, lập lại các tỉnh. Căn cứ của Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một bấy giờ đóng tại Hàng Nù, xã Kiến An, huyện Bến Cát. Tháng 1/ 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Miền Nam, vùng giải phóng của ta lúc này được mở rộng, khí thế cách mạng của nhân dân lên cao hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ đã tăng cường và sử dụng quân ngụy trắng trợn phá hoại Hiệp định Paris, âm mưu kéo dài chiến tranh. Ở Thủ Dầu Một, cũng như nhiều địa phương trên toàn Miền, với cường độ đánh phá, càn quét ác liệt, địch bước đầu lấn chiếm được một số vùng giải phóng, đóng thêm nhiều đồn bót dọc các trục giao thông quan trong, ủi phá địa hình ở các vùng căn cứ lõm thuộc huyện Châu Thành, Tân Uyên, Lái Thiêu, Dĩ An… Vì vậy, từ giữa năm 1973, TWC liên tiếp ra các tài liệu, chỉ thị nhằm chấn chỉnh tình hình, nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ, giữ vững vùng giải phóng. Trên tinh thần đó, Tỉnh ủyThủ Dầu Một kiên quyết lãnh đạo quân dân toàn tỉnh đẩy mạnh phản công địch về mọi mặt, đập tan âm mưu lấn đất, giành dân của địch, giữ vững vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến.

Trong tình hình đó, đầu năm 1973, Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một xúc tiến chuẩn bị Đại hội Tỉnh Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Thủ Dầu Một lần thứ III. Đại hội được tiến hành từ ngày 15 đến 17/ 3/ 1973 tại làng 18, Sở cao su Dầu Tiếng, với 115 đại biểu tham dự trong không khí tràn đầy phấn khởi và nhiệt tình cách mạng của tuổi trẻ. Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ của Đoàn và phong trào thanh niên tỉnh Thủ Dầu Một trong thời kỳ trước mắt là: tiếp tục tham gia xây dựng và củng cố vùng giải phóng; làm thất bại âm mưu lấn đất, giành dân của địch; đẩy mạnh hoạt động chính trị, vũ trang, binh vận làm suy yếu quân ngụy, sẵn sàng chuẩn bị mọi điều kiện để nắm bắt thời cơ mới.

Tháng 7/1973, Đại hội Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Việt Nam lần thứ II được tổ chức tại chiến khu R, Tân Biên, Tây Ninh[1]. Đại hội quyết định phát động phong trào thanh niên “3 xung phong giành, giữ hòabình”, bao gồm :

– Xung phong đấu tranh chính trị

– Xung phong tham gia xây dựng lực lượng vũ trang

– Xung phong xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 21 (10/1973), Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn  Miền và Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đoàn, trong năm 1974, hoạt động của Tỉnh Đoàn Thủ Dầu Một được đẩy mạnh về mọi mặt và thu được những kết quả quan trọng, tác động tích cực đến phong trào đấu tranh chung của tỉnh. Thời kỳ này Tỉnh Đoàn tập trung  củng cố và phát triển các tổ chức Đoàn cơ sở, đặc biệt là cơ sở vùng nội ô và vùng địch tạm kiểm soát, cơ sở ở các nhà máy, cơ sở binh địch vận… nhằm chuẩn bị thực lực để giữ vững thế tiến công cách mạng trong bất kỳ tình huống nào theo tinh thần của Nghị quyết TW Đảng. Đồng thời, trên cơ sở đó mà tham gia đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ và xây dựng, củng cố vùng căn cứ, vùng giải phóng.

Trong công tác phát triển Đoàn, năm 1974, toàn tỉnh phát triển thêm được 151 đoàn viên, tăng thêm 12 chi đoàn ở các huyện Châu Thành, Nam Bến Cát, Bắc Bến Cát, Dầu Tiếng, thị xã Thủ Dầu Một, Dĩ An, Lái Thiêu, Bắc Tân Uyên, Phú Giáo. Ta củng cố lại được 5 chi đoàn, bị giảm 1 chi đoàn cơ quan do hy sinh. Số lượng đoàn viên bị giảm 21, phần lớn do hy sinh trong chiến đấu, một số được chuyển Đảng hoặc rút về trên. Trong năm, ta xây dựng được 29 tổ thanh niên giải phóng với 235 hội viên, 24 tổ và đội thiếu nhi gồm 192 em, 4 tổ và đội văn nghệ với 135 em, 6 cảm tình trong lực lượng phòng vệ của địch, 10 cơ sở các loại.

Để nâng cao năng lực công tác và lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước cho cán bộ Đoàn và  đoàn viên, thanh niên, Tỉnh Đoàn đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, huấn luyện. Trong năm 1974, ta mở được 3 lớp đào tạo cán bộ tại Tỉnh Đoàn (có 44 cán bộ Đoàn tham gia học tập), phối hợp với các huyện mở được 4 lớp ( cho 52 cán bộ Đoàn), mở 2 lớp tập huấn cho 23 cán bộ Đoàn. Ngoài ra, Tỉnh Đoàn còn thường xuyên tổ chức các đợt học tập nhằm tuyên truyền giáo dục tình hình, nhiệm vụ mới cho đoàn viên, thanh niên, thiếu nhi: trong năm 1974, ta tổ chức giáo dục được 1336 lượt đoàn viên, 346 thanh niên ngoài Đoàn, 105 cơ sở, 67 thiếu nhi. Bên cạnh đó, Tỉnh Đoàn còn tổ chức nhiều cuộc tuyên truyền phát động rộng rãi cho thanh thiếu niên. Năm 1974, bằng nhiều hình thức công khai, hợp pháp, bán hợp pháp với  những hoạt động phong phú như họp xóm ấp, chiếu phim, biểu diễn văn nghệ… ta đã tổ chức tuyên truyền phát động cho 7511 lượt thanh thiếu niên nhằm quán triệt tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng, giáo dục truyền thống dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kêu gọi thanh niên bung về ruộng vườn cũ tham gia sản xuất, xây dựng vùng giải phóng… [1]

Giai đoạn này, công tác phát triển cơ sở Đoàn và mạng lưới cốt cán, cảm tình trong vùng địch tạm chiếm của ta thu được nhiều thành quả. Tại nội ô thị xã Thủ Dầu Một, chi đoàn mật K5 phân công cho các đoàn viên xây dựng lực lượng nòng cốt, cảm tình theo  cách: mỗi đoàn viên xây dựng cho được từ 3 đến 5 học sinh trở thành nòng cốt; mỗi nòng cốt lại xây dựng 3 đến 5 học sinh có cảm tình với cách mạng. Từ đó, hình thành một mạng lưới thanh niên cốt cán, cảm tình cách mạng với gần 200 người. Hằng ngày và qua các cuộc đi chơi, đi cắm trại, các đoàn viên, thanh niên cốt cán tranh thủ giáo dục tinh thần yêu nước, chống Mỹ – Thiệu cho nhiều thanh niên học sinh khác, vận động anh chị em tham gia các hoạt động hợp pháp chống Mỹ – ngụy : phản đối chào cờ ngụy với lý do nhà xa quá không đi kịp giờ; tổ chức phá các cuộc mít-tinh tuyên truyền các chính sách của chính quyền Thiệu bằng cách gây ồn ào, mất trật tự, không thèm nghe diễn thuyết; rủ nhau bỏ các giờ học quân sự  bắt buộc theo chủ trương “quân sự hóa học đường” của Mỹ – ngụy; đấu tranh chống bắt thanh niên gia nhập tổ chức “ Thanh niên bảo vệ quốc gia”; tổ chức bãi khóa trong ngày lễ 1/11/1974 (ở các trường Bồ Đề, Nghĩa Phương, Nguyễn Trãi… học sinh nghỉ học đông quá nên trường cũng phải nghỉ dạy); vận động học sinh  chất vấn một số CIA đội lốt giám thị trong các buổi sinh hoạt khi chúng tuyên truyền về “chủ nghĩa quốc gia, phục vụ dân tộc” giả hiệu, làm cho địch đuối lý… Nhiều lần, các đoàn viên trong chi đoàn K5 còn nhận truyền đơn, cờ mặt trận từ căn cứ đem về rãi, dán ở những nơi đông người qua lại, khiến cho đông đảo bà con đều mừng vui, phấn khởi, khen “Việt Cộng giỏi thật!”[1].

Các hình thức hoạt động phong phú của thanh niên học sinh  đã phối hợp chặt chẽ và hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Tại thị xã, trong những năm 1973 – 1974, các chi đoàn[1] và các tổ chức quần chúng khác  làm nòng cốt tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chính trị  sôi nổi : công nhân nhà máy nước đá lãn công đòi phụ cấp, đòi tăng lương, thưởng Tết, đòi được nghỉ trong ngày lễ 1/5;  công nhân các lò chén đấu tranh đòi tăng lương; công nhân xe lam chống tăng giá xăng dầu, chống đuổi bến; chị em tiểu thương đấu tranh chống thuế, chống đuổi chợ…. Mạnh mẽ nhất vẫn là phong trào đấu tranh của bà con nông dân ở các quận Tân Uyên, Châu Thành, Lái Thiêu, Dĩ An … với nhiều cuộc đấu tranh đòi địch phá bỏ ấp chiến lược, đòi tự do đi lại làm ăn, chống bắt lính đôn quân, đòi thi hành Hiệp định Paris, chấm dứt bắn phá xóm làng, vơ vét lúa gạo[1]… Ở những nơi này,  bộ đội địa phương, dân quân du kích, thanh niên tự vệ, các đoàn viên đã tích cực hỗ trợ nhân dân đấu tranh làm thất bại âm mưu xảo quyệt của địch: nông dân đấu tranh bằng lý lẽ với địch; lực lượng vũ trang tổ chức đánh địch trên diện rộng để chúng phải đối phó, không rảnh tay đi vơ vét, cướp lúa; bộ đội, du kích và lực lượng đoàn viên tranh thủ giúp bà con gặt nhanh khi lúa vừa chín và kịp thời đem lúa vào rừng, vào hầm cất giấu… Nhờ vậy mà bảo vệ được tài sản cho dân và tích trữ được lương thực cho vùng căn cứ.

Về quân sự, trên các địa bàn Bến Cát, Tân Uyên, Lái Thiêu, Dĩ An, Phú giáo…, lực lượng vũ trang ta thực hiện phản công, thường xuyên bám đánh những cuộc hành quân càn quét của địch, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, bảo vệ vững chắc các vùng giải phóng Vĩnh Tân, Vĩnh Lợi, Tân Phước, giữ vững nhiều căn cứ lõm ở Châu Thành, Lái Thiêu…, bức rút nhiếu đồn bót địch đóng trái phép sau Hiệp định; đột nhập vào các ấp chiến lược móc nối cơ sở, phát triển đảng viên, đoàn viên, xây dựng thêm nhiều chi bộ, chi đoàn, diệt ác, phá kềm, mở thế làm chủ cho dân, vận động nhân dân đấu tranh đòi về làng xóm cũ, phát loa gọi hàng binh lính địch, vận động thanh niên thoát ly tham gia cách mạng… Trong năm 1974, ta vận động được 198 thanh niên nam nữ thoát ly gia đình tham gia cách mạng; đưa 60 em thiếu nhi đi học thiếu sinh quân; vận động được 451 thanh niên tham gia dân quân du kích xã, ấp. Nổi bật là Bắc Bến Cát với tỉ lệ 80% thanh niên tham gia dân quân du kích; Dầu Tiếng, Phú Giáo 90% thanh niên tham gia dân quân du kích [1].

Ở nông thôn, phong trào nhân dân tham gia du kích chiến tranh, bảo vệ vùng giải phóng phát triển mạnh. Nhiều chi đoàn ở các vùng căn cứ lõm đã tích cực hoạt động, phát huy vai trò nòng cốt của mình trong công tác vận động nhân dân tham gia xây dựng địa hình, củng cố làng chiến đấu. Ở Bắc Bến Cát, với lực lượng đoàn viên, thanh niên làm nòng cốt, mỗi tháng ta huy động nhân dân tham gia các hoạt động xây dựng xã ấp chiến đấu từ 5 đến 10 ngày. Trong năm 1974, có 1513 lượt đoàn viên tham gia rào được 16.211 mét rào chiến đấu, đào và sửa hàng trăm công sự, hàng trăm mét giao thông hào. Đoàn viên, thanh niên còn tích cực tham gia tuần tra canh gác bảo vệ trật tự an ninh xóm ấp. Trong năm, Bắc Bến Cát huy động được 200 lượt thanh niên, Dầu Tiếng có 140 lượt thanh niên tham gia tuần tra canh gác xóm ấp.

Chi đoàn Thanh An, Thanh Tuyền  (Bến Cát) là hai trong số những chi đoàn mạnh đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang trong trận tiến công giải phóng hoàn toàn 2 xã vào ngày 1/5/1972, phá thế bao vây cho vùng trung tuyến phía đông sông Sài Gòn, mở thế liên hoàn với vùng trung tuyến phía tây sông, tạo chỗ đứng chân cho bộ đội chủ lực, đồng thời, tạo bàn đạp thuận lợi cho TWC tiếp cận với chiến trường. Từ đó, chi đoàn tiếp tục làm nòng cốt trong công tác phát động đấu tranh chính trị, binh vận, xây dựng xã chiến đấu, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng này cho đến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trải qua các thời kỳ đấu tranh gian khổ và quyết liệt, đoàn viên, thanh thiếu niên Thủ Dầu Một ngày càng trưởng thành về mọi mặt: lớn mạnh về tổ chức, vững vàng về chính trị và thông minh, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Tuổi trẻ đã góp phần cùng quân dân toàn tỉnh trong các mũi đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận phối hợp nhịp nhàng trên các vùng chiến lược ở Thủ Dầu Một và trên toàn Miền Nam đã làm cho quân đội và chính quyền Sài Gòn ngày càng lâm vào thế suy sụp, khó khăn. Thời cơ giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước ngày càng đến gần.

Thanh niên Thủ Dầu Một trong mùa xuân đại thắng 1975.
Thắng lợi dồn dập về quân sự của quân dân ta trên toàn Miền Nam trong chiến dịch mùa khô 1974 – 1975, đặc biệt là chiến thắng Phước Long, đã thúc đẩy chín muồi thời cơ giải phóng Miền Nam. Tháng 1/ 1975, Bộ Chính trị TW Đảng quyết định “Nắm vững thời cơ lịch  sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ…”

Ở Thủ Dầu Một, những tháng đầu năm 1975, quân dân  Bến Cát liên tục đánh địch mở rộng vùng  giải phóng ( khu vực Bưng Còng, Rạch Bắp, Kiến An, Kiến Điền…) tạo thế liên hoàn bao vây địch ở quận lỵ Dầu Tiếng và Bến Cát. Khu vực bắc và tây bắc thị xã Thủ Dầu Một, vùng giải phóng được mở rộng, nối liền với chiến khu Đ, căn cứ của toàn Miền. Tân Uyên kiên cường bẻ gãy nhiều cuộc càn lớn, bảo vệ vững chắc vùng căn cứ. Ở các vùng tranh chấp yếu như Lái Thiêu, Dĩ An, nam Châu Thành… ta đẩy mạnh hoạt động đột nhập vào các ấp chiến lược, tổ chức vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở trong quần chúng, kết hợp diệt tề, trừ gian, giải tán phòng vệ dân sự… Song song với tiến công vũ trang, Tỉnh ủy chỉ đạo cho các địa phương phát động nhân dân đấu tranh chính trị, binh vận nhằm mở rộng và củng cố địa bàn. Tháng 3/1975, bước vào đợt II của chiến dịch mùa khô, quân dân Thủ dầu Một lại liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn. Trong khi quân dân Tây Nguyên vừa giải phóng Buôn Ma thuột thì ngày 13/3/1975, quận Dầu Tiếng được giải phóng hoàn toàn, chặt đứt một khâu quan trọng trên hướng phòng thủ bắc Sài Gòn của ngụy. Bên cạnh đó, ở Tân Uyên, Lái Thiêu, Châu thành, Dĩ An, Bến Cát, thị xã Thủ Dầu Một, đấu tranh quân sự, chính trị liên tục diễn ra giành thắng lợi hòa với những chiến công giòn giã của quân dân cả nước. Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng Miền Nam ngay trong năm 1975. Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Gia Định được thành lập. Các quân đoàn chủ lực được lệnh hành quân thần tốc, vừa đi vừa đánh để tiến về chiến trường Sài Gòn – Gia Định. Các địa phương trên toàn Miền có nhiệm vụ đánh địch tạo bàn đạp thuận lợi cho các binh đoàn cơ động tiến về chiến trường trọng điểm, vừa phát động quần chúng nổi dậy tự giải phóng địa phương mình phối  hợp với chiến trường chung.

Ở Thủ Dầu Một, quân dân Lái Thiêu, Châu Thành, Dĩ An, Tân Uyên, thị xã tăng cường tiến công vũ trang bao vây địch, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy đấu tranh mạnh mẽ bằng các mũi chính trị, binh vận. Lúc này, tinh thần binh sĩ địch suy sụp nghiêm trọng. Chỉ trong hơn một tuần lễ đầu tháng 4/1975, toàn tỉnh có gần 300 lính đào ngũ,  nhiều toán phòng vệ dân sự tự động giải tán.

Từ ngày 14 đến ngày 16/4/1975, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một mở hội nghị cán bộ chủ chốt để phổ biến tình hình, nhiệm vụ của quân dân toàn tỉnh trong chiến dịch tiến công và nổi dậy giải phóng tỉnh, phối hợp với chiến trường Sài Gòn. Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương và đầy khí thế. Hàng trăm cán bộ cốt cán được tổ chức thành 11 đoàn công tác, chuẩn bị sẵn sàng tiến về nội ô các thị xã, thị trấn để cùng với cấp ủy tại chỗ vận động quần chúng nổi dậy, phối hợp với lực lượng vũ trang, giải phóng địa phương.

Nhằm tăng cường sức mạnh của quả đấm quân sự, bên cạnh tiểu đoàn Phú Lợi 1 và Phú Lợi 2, Tỉnh ủychủ trương rút thanh niên từ các cơ quan, đơn vị ở các địa phương, thành lập tiểu đoàn Phú Lợi 3. Ngoài ra, còn có 4 đại đội binh chủng hợp thành từ các lực lượng vũ trang địa phương. Mỗi huyện có 1 đại đội địa phương, các xã đều có lực  lượng dân quân du kích. Bên cạnh đó, các huyện tiếp tục động viên thanh niên, lấy thêm tân binh, bổ sung quân số cho bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Về lực lượng chính trị, nhờ sự tăng cường lực lượng từ các vùng căn cứ, vùng giải phóng ra cho các địa phương theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, hầu hết các xã đều có chi bộ, chi đoàn và các tổ chức quần chúng nòng cốt.

Về vật chất, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và dân công hỏa tuyến, mà phần lớn là thanh niên, liên tục ngày đêm vận chuyển hơn 40 tấn vũ khí, đạn dược và 80 tấn lương thực ra tuyến trước để kịp thời phục vụ chiến trường.

Trong không khí khởi nghĩa hết sức khẩn trương, tuổi trẻ Thủ Dầu Một cùng quân dân toàn tỉnh trong các đơn vị lực lượng vũ trang, các cơ quan dân – chính – đảng, các tổ chức đoàn thể quần chúng đều tích cực chuẩn bị lực lượng và tư thế sẵn sàng bước vào chiến dịch. Lực lượng đoàn viên, thanh niên trong các thị xã, thị trấn cũng được giao nhiều trọng trách. Ngày 26/4/1975, hai đồng chí Nguyễn Minh Giao và Mười Nhung (chi đoàn K5- thị xã Thủ Dầu Một) được tổ chức chỉ thị ra vùng căn cứ Rạch Móc thuộc xã Trung An, huyện Củ Chi để truyền đạt chủ trương giải phóng Miền Nam. Nhiệm vụ của chi đoàn là vận động thanh niên tham gia nổi dậy khởi nghĩa khi quân giải phóng tiến vào thị xã, tham gia chiếm các trụ sở của ngụy quyền và bảo vệ tài sản tiếp quản được.

Ngày 26/4/1975, các đoàn cán bộ và lực lượng vũ trang ta bắt đầu ra quân, ồ ạt tiến về các mục tiêu trong nội ô thị xã. Ngay trong đêm, ta giải phóng xã Bình Mỹ (tuyến phòng thủ bắc thị xã), mở đường cho các cánh quân của Quân đoàn I tiến về Sài Gòn. Những ngày sau đó, các địa phương trên toàn tỉnh đều đẩy mạnh tiến công quân sự kết hợp chặt chẽ với mũi nổi dậy của quần chúng, bức rút, bức hàng nhiều đồn bót, phá rã bộ máy tề xã, ấp lần lượt giải phóng các xã, huyện. Đêm 27/4, khu tam giác sắt An Điền, An Tây, Phú An  (Bến Cát) được hoàn toàn giải phóng; đêm 28, giải phóng xã Phú Chánh ( Châu Thành)… 29/4, giải phóng thị trấn Tân Uyên và các xã trong toàn huyện… Sáng ngày 30/4 ta tiến công tiểu khu Phú Lợi. Chín giờ sáng, quân ta làm chủ trận địa. Tỉnh trưởng ngụy Nguyễn Văn Của xin bàn giao chính quyền cho lực lượng cách mạng. Trong khi đó, ở nội ô thị xã, các tổ chức quần chúng công, nông, thanh, phụ làm nòng cốt phát động quần chúng nổi dậy, kết hợp binh vận và tiến công vũ trang bức rút, bức hàng thêm hàng loạt đồn bót địch. Đến 10 giờ sáng 30/4, ta làm chủ nội ô thị xã. Đúng 10 giờ 30 phút, chị Mười Nhung (đoàn viên chi đoàn K5) và cô Một (thanh niên cốt cán)  nhanh chóng tiến vào Chợ Thủ, cắm cờ Mặt trận lên nóc nhà việc Phú Cường. Trong khi đó, các anh Giao, anh Sơn, Ninh Quốc Bình, Ngô Công Minh[1] cùng một số thanh niên cốt cán tiến về Thành công binh, tham gia với cánh quân phía tây (đã có mặt từ trước) chiếm giữ thành. 11 giờ, các anh Giao, Bình, Minh được đồng chí Hoàng (Phó Bí thư Tỉnh Đoàn) giao nhiệm vụ tiến chiếm Ty Thanh niên. Tại đây, các anh treo cờ, thu gom tài liệu, biến nơi đây thành trụ sở Tỉnh Đoàn, nơi tập hợp lực lượng thanh niên hăng hái và có lý tưởng cách mạng đến nhận nhiệm vụ góp phần xây dựng, bảo vệ và củng cố chính quyền nhân dân vừa mới giành lại được. Lực lượng thanh niên được huy động làm các nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông, sơn xóa các khẩu hiệu và cờ ngụy, dọn vệ sinh… thu hút nhiều đồng bào tham gia. Mấy ngày sau, cơ quan Tỉnh Đoàn từ căn cứ trên rừng cũng tiến về thị xã, thực hiện công tác lãnh đạo thanh thiếu niên, nhi đồng toàn tỉnh bước vào thời kỳ mới : thời kỳ xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi.  Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất. Thắng lợi vĩ đại đó là kết quả của hơn 20 năm đấu tranh anh dũng với biết bao hy sinh, mất mát của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, trong đó có nhân dân Bình Dương. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một luôn chú trọng đặc biệt đến công tác vận động quần chúng, nhất là đối với lực lượng thanh niên. Từ những ngày đầu kháng chiến, Tỉnh ủy đã tổ chức xây dựng và củng cố cơ sở Đoàn và thanh niên cốt cán ở khắp các vùng nông thôn, đô thị, đồn điền, nhà máy, trường học. Trên cơ sở đó, đoàn viên, thanh niên Thủ Dầu Một đã phát huy cao độ tính năng động, sáng tạo và sức mạnh của tuổi trẻ vào cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc. Thanh niên là nguồn bổ sung lực lượng chủ yếu cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, cũng là bộ phận quan trọng trong lực lượng dân quân du kích xã ấp. Thanh niên là lực lượng nòng cốt trong phong trào du kích chiến tranh, xây dựng xã ấp chiến đấu. Thanh niên, nhất là chị em nữ thanh niên, luôn luôn thể hiện vai trò xung kích trong các cuộc đấu tranh chính trị với địch. Từ trong cái nền chung đó, thanh thiếu niên Bình Dương đã xây dựng được những hình tượng đặc biệt trở thành nét riêng của Bình Dương: đó là dũng sĩ tí hon Hồ Văn Mên được Bác Hồ nhiều lần nhắc đến; là đội biệt động K13 từng là nỗi lo sợ của binh lính địch; là đội nữ pháo binh Bến Cát-đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang; là chi đoàn mật K5 trong học sinh trung học với nhiều hoạt động sôi nổi ngay trong lòng địch; là chị Đoàn Thị Liên, tấm gương sáng cho lực lượng thanh niên xung phong toàn Miền thời kỳ chống Mỹ; là rất nhiều các dũng sĩ diệt Mỹ, các anh hùng lực lượng vũ trang…

Chiến tranh đã qua đi. Giờ đây thanh thiếu niên Việt Nam nói chung và thanh thiếu niên Bình Dương nói riêng được sống trong hòa bình, độc lập, dân chủ. Những giá trị thiêng liêng đó là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ của bao thế hệ người Việt từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1975, là thành quả trực tiếp của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Càng yêu hòa bình, chúng ta càng trân trọng và ghi nhớ những mất mát, hy sinh của dân tộc, trong đó có đóng góp to lớn của thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên Bình Dương nói riêng. Càng đổi mới, càng mở cửa, chúng ta càng không thể quên truyền thống. Những tấm gương yêu nước, hy sinh, cách tổ chức và hoạt động phong phú của đoàn viên, thanh thiếu niên Bình Dương qua các thời kỳ kháng chiến là bài học quý báu cho tuổi trẻ Bình Dương trong thời kỳ mới. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, thanh thiếu niên Bình Dương đang tiếp tục phát huy chủ nghĩa yêu nước và trí sáng tạo của cha anh, đóng góp vào quá trình xây dựng Bình Dương thành một địa phương giàu mạnh và năng động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam XHCN.